Trang này bao gồm toàn bộ các truyện cổ của Andersen-những truyện có ý nghĩa sâu sắc đã làm say lòng bao nhiêu thế hệ người trên khắp thế giới. Trang web này dành tặng cho Đại sứ quán Đan Mạch tại Việt Nam.

Wednesday, October 19, 2005

Về Andersen
K. Pautôpxki, 1955

****
Tôi làm quen với nhà văn Christian Anđecxen khi tôi mới lên bảy.

Cuộc gặp gỡ xảy ra trong một buổi tối mùa đông, vẻn vẹn vài giờ trước khi bước vào thế kỉ thứ 20. Người kể chuyện cổ tích vui tính nước Đan Mạch đã đón tôi trên ngưỡng cửa thế kỉ mới.

Ông ta nheo mắt lại ngắm nghía tôi hồi lâu, rồi vừa tủm tỉm cười vừa móc túi ta một chiếc khăn trắng bông thơm phức. Ông phất khăn một cái và bất thình lình từ trong rơi ra một bông hồng bạch to. Ngay tức khắc, ánh bạc của bông hồng và một tiếng kêu lanh lảnh, chậm chạp vag khó hiểu tràn ngập khắp phòng. Hoá ra đó chĩnh là những cánh hồng đã reo lên khe khẽ khi chạm phải sàn gạch của gian hầm, nơi hồi đó gia đình tôi trú ngụ.

Lần gặp Anđecxen ấy chính là các hiện tượng mà các nhà văn cổ lỗ gọi là "mộng trong đời thực". Chắc hẳn đó chẳng qua là tôi tưởng tượng ra như vậy.

Trong cái buổi tối mùa đông mà tôi kể cho các bạn nghe đây, gia đình tôi đang trang hoàng cây thông đầu năm. Nhân dịp ấy cha mẹ tôi bắt tôi ra đường chơi để tôi khỏi vui mừng với thông quá sớm.

Tôi không tài nào hiểu nổi vì sao lại không được vui mừng trước một hạn định chặt chẽ nào đó. Theo tôi nghĩ thì niềm vui đâu có phải là một vị khách thường đến thăm gia đình tôi mà phải bắt trẻ con chúng tôi mệt mỏi chờ đợi. Nhưng dù sao mặc lòng, tôi vẫn bị đẩy ra phố. Lúc đó trời chưa tối hẳn, những cây đèn lồng ngoài đường chưa được thắp sáng, nhưng chúng có thể bừng lên ngay đó chưa biết chừng. Và vì cái "ngày đó" kia, vì sự chờ đợi những cây đèn bất thình lình sẽ sáng, tim tôi se lại. Tôi biết chắc chắn rằng trong ánh sáng màu xanh lá mạ của hơi đốt, đủ mọi thứ kì diệu bên trong các tủ kính của các cửa hàng sẽ hiện ra ngay lập tức, những đế sắt lắp giày trượt băng "Xnegurka", những cây nến xoắn với đủ mọi màu sắc cầu vồng, mặt nạ của những chú hề đội mũ trắng hình trụ, những chàng kị sĩ trên lưng những con ngựa hùng hổ màu cánh gián, những cây pháo và những dây xích giấy óng vàng. Không hiểu vì sao, nhưng những đồ vật đó bao giờ cũng bốc lên mùi keo dán và mùi nhựa thông.

Cha mẹ tôi nói suốt buổi tối với tôi rằng buổi tối hôm đó là một buổi tối hoàn toàn đặc biệt. Muốn đợi cho một buổi tối như thế, cần phải sống thêm một trăm năm nữa. Mà điều đó hì hầu như không ai đạt được.

Tôi hỏi cha tôi rằng "buổi tối đặc biệt" nghĩa là thế nào. Cha tôi giải thích cho tôi rằng người ta gọi buổi tối đó như thế là vì nó không giống hết thảy mọi buổi tối khác.

Thực vậy, cái buổi tối mừa đông trong ngày cuối cùng của thế kỉ thứ 19 không giống hết thảy mọi buổi tối khác. Tuyết rơi chậm rãi và rất bệ vệ: Những bông tuyết lớn đến nỗi tưởng chừng từ trên trời đang rơi xuống thành phố những bông hoa trứng xốp và ở phố nghe rõ tiếng ngựa rè rè của các xe chở khách.

Khi tôi trở về nhà thì cây thông đầu năm lập tức được thắp sáng và trong phòng những ngọn nến bắt đầu lép bép một cách vui vẻ như thể chung quanh tôi những vỏ quả keo thô đang nổ liên tiếp.

Bên cạnh cây thông có một cuốn sách dày: quà của mẹ tôi cho tôi. Đó là những truyện cổ tích của Anđecxen.

Tôi ngồi xuống dưới cây thông đầu năm và giở cuốn sách. Trong cuốn sách có rất nhiều tranh in màu phủ bằng giấy thuốc lá. Để xem kỹ những bức tranh còn ướt mực ấy tôi phải thận trọng thổi tờ giấy mỏng đó cho lật lên.

Trong tranh, tường những lâu đài tuyết lấp lánh ánh pháo hoa, những con thiên nga bay lượn trên biển cả có những áng mây hồng soi bóng và những chàng lính chì một chân đứng gác giữ chặt cây súng dài.

Tôi bắt đầu đọc và đọc say mê đến nỗi những người lớn phải bực mình vì hầu như tôi chẳng chú ý gì đến cây thông được trang hoàng đẹp đẽ.

Trước tiên, tôi đọc truyện cổ tích về anh lính chì giàu nghị lực và cô vũ nữ bé nhỏ, kiều diễm, rồi đến truyện nữ Chúa Tuyết. Lòng tốt kỳ diệu và ngào ngạt hương như cách tôi cảm thấy, củ con người, giống như hương thơm của hoa, bay ra từ những tranh giấy của cuốn sách mép mạ vàng kia.

Rồi tôi mơ màng ngủ thiếp đi dưới cây thông vì mệt và vì hơi nóng của những cây nến toả ra. Và giữa lúc mơ mơ màng màng như thế, tôi nhìn thấy Anđecxen khi ông để rơi bông hồng, Từ đó, bao giờ tôi cũng hình dung ông giống như trong giấc mơ êm ái đó.

Tất nhiên, lúc đó tôi còn chưa biết cả nghĩa đen và nghĩa bóng những truyện cổ tích của Anđecxen. Tôi không biết rằng trong mỗi truyện cổ tích khác mà chỉ người lớn mới hiểu hết ý nghĩa của nó.

Điều đó mãi về sau nay tôi mới hiểu. Tôi hiểu rằng quả thực tôi đã may mắn vì khi sắp bước vào thế kỉ thứ hai mươi vĩ đại và gian lao, đã được gặp Anđecxen- con người kì quặc đáng yêu, đồng thời là nhà thơ và ông đã dạy tôi tin tưởng vào thắng lợi của ánh sáng trước bóng tối và cuả trái tim người trên cái ác. Lúc đó tôi đã biết câu thơ của Puskin "muôn năm ánh nắng, bóng tối cút đi!" và không hiểu sao tôi cứ tin rằng Puskin và Anđecxen là đôi bạn chí thiết và khi gặp nhau, hai ông thường vỗ vào vai nhau hồi lâu mà cười ha hả.

Mãi về sau này tôi mới được biết tiểu sử của Anđecxen. Và từ đó, bao giờ tôi cũng hình dung đời ông như những bức tranh thú vị, giống như những hình vẽ minh hoạ truyện của ông.

Suốt đời ông, Anđecxen đã biết vui sướng, mặc dầu thời thơ ấu của ông đã không tạo cho ông cơ sở nào để vui sướng. Ông sinh ra năm 1805 khoảng thời gian những cuộc chiến tranh của Napôlêông, tại thành phố Đan Mạch cổ kính- Ôđenzê-trong gia đình một người thợ giày.

Thành phố Ôđenzê nằm ở một trong những thung lũng giữa những quả đồi thấp trên đảo Fiun. Trong những thung lũng trên đảo hầu như lúc nào cũng có sương mù lẩn quất, còn trên đỉnh những quả đồi thì lại nở hoa thạch thảo.

Nếu ta nghĩ kĩ một chút xem Ôđenzê giống cái gì thì ta có thể nói rằng nó gợi cho ta nghĩ đến nhiều hơn hết một thành phố đồ chơi của trẻ con bằng gỗ sồi đen.

Không phải vô cớ mà Ôđenzê nổi tiếng vì thợ chạm gỗ. Một người trong bọn họ, Klaux Bécgơ-tay thợ cả nổi tiếng một thời trung cổ- đã dùng gỗ mun chạm một bàn thờ đồ sộ cho thánh đường Ôđenzê. Bàn thờ nguy nga và dữ tợn đó không những đã làm cho trẻ con mà cả người lớn nữa cũng phải kinh hãi.

Nhưng những người thợ chạm Đan Mạch không chỉ làm bàn thờ và tượng thánh.

Đối với họ, làm những pho tượng bằng những khúc gỗ lớn dùng để trang hoàng mũi của những con tàu buồm theo tục lệ hàng hải vẫn thú hơn. Đó là những pho tượng Đức Mẹ mộc mạc nhưng có sức biểu hiện thượng thần biển Neptuyn, tượng thuỷ thần Nêrex, những con cá heo, những con cá ngựa đầu cúi gập. Người ta thếp vàng, sơn màu côban và vàng lên những tượng ấy và đặc biệt họ quét sơn dày đến nỗi sóng biển nhiều năm ròng rã cũng không thể làm bong hết hoặc làm hư sơn.

Thực ra, những người thợ chạm các pho tượng cho tàu thuỷ kia chính là những nhà thơ của biển cả và là những nhà thơ của nghề nghiệp bản thân họ. Không phải ngẫu nhiên mà trong gia đình một người thợ chạm như vậy đã xuất hiện một trong những nhà điêu khắc vĩ đại nhất của thế kỉ thứ mười chín, bạn của Anđecxen là Anbe Torvanxen, người Đan Mạch.

Chú bé Anđecxen đã trông thấy những tác phẩm điêu luyện của những tay thợ chạm không phải chỉ trên những con tàu mà cả trên những ngôi nhà ở Ôđenzê. Chắc hẳn ở Ôđenzê, ông đã biết ngôi nhà cổ lỗ, nơi người ta khắc niên hiệu xây nhà trên một tấm gỗ dày trong tấm khung bằng những bông hồng và những bông tuylíp. Cũng ở đó, người ta đã khắc vào gỗ cả một bài thơ và trẻ con đã học thuộc bài thơ đó. Còn những người thợ giày bao giờ cũng đóng giày từng đôi.

Cha của Anđecxen làm nghề đóng giày nhưng trên cửa nhà ông treo hình con đại bàng hai đầu. Chỉ những thợ có chân trong phường bạn mới có quyền treo những tấm biển như vậy, mà cha Anđecxen thì quá nghèo, không có tiền góp với phường.

Anđecxen lớn lên trong bần hàn. Niềm tự hào duy nhất của gia đình Anđecxen là sự sạch sẽ đặc biệt trong nhà họ, chiếc thùng đất hành mọc um tùm và vài chậu cảnh trên các cửa sổ.

Trong các chậu cây, hoa tuylíp nở. Hương của hoa lẫn vào trong chiếc chuông đổ hồi, tiếng búa thợ giày của người cha, tiếng trống dồn dập của những người lính đánh trống bên đồn binh, tiếng sáo của anh nhạc công lang thang và những bài hát khàn khàn của những tay phù thuỷ đang đang dẫn những chiếc xà lan thô kệch vào trong vịnh biển lân cận.

Trong tất cả cái muôn màu muôn vẻ của những con người, những sự kiện tủn mủn, màu sắc và âm thanh vây quanh một chú bé tính tình lặng lẽ, Anđecxen đã tìm được cớ để nghĩ ra đủ mọi thứ chuyện.

Trong nhà Anđecxen, chú bé chỉ có một người nghe biết ơn người kể- đó là lão mèo già Cáclơ. Nhưng Cáclơ mắc một tật lớn – lão thường ngủ thiếp đi, không nghe hết câu chuyện cổ tích thú vị. Cái tuổi già của loài mèo đã thắng lão, như người ta thường nói.

Nhưng chú bé không giận lão mèo già. Chú tha mọi tội cho lão và Cáclơ không bao giờ cho phép mình nghi ngờ sự tồn tại của những mụ phù thuỷ, của anh chàng ranh ma Khampê-Đumpê, những tay thông ống khói tinh đời, những bông hoa biết nói và những con ếch đội vòng kim cương trên đầu.

Những câu chuyện cổ tích đầu tiên mà chú bé được nghe là những câu chuyện do cha chú và các bà lão trong viện làm phúc cho người tàn tật gần đó kể lại. Những bà lão nọ suốt ngày ngồi gò lưng đAnđecxen những sợi lên xám và lầu bầu kể những câu chuyện thực thà của họ. Chú bé xoay chuyển lại những câu chuyện ấy theo ý mình, tô điểm thêm cho chúng, giống như chú quét lên chúng những lớp sơn mới và trong một hình thức khác hẳn, chú lại kể những câu chuyện ấy, nhưng lần này người nghe lại là các bà lão nọ. Còn các bà lão thì chỉ biết ngạc nhiên và thì thầm với nhau rằng bé Christian quá thông minh và vì thế nó sẽ chết yểu.

Trước khi kể tiếp cho các bạn nghe, tôi cần phải dừng lại ở một đặc điểm của Anđecxen mà tôi đã nói qua – ở chỗ ông biết cách vui sướng với tất cả những gì thú vị và tốt đẹp mà ta luôn gặp ở mỗi con đường nhỏ, ở mỗi bước đi.

Của đáng tội, gọi các đặc điểm ấy là sự biết cách thì không đúng. Đúng hơn, nên gọi nó là tài năng, là cái khả năng hiếm có nó cho ta nhận thấy những điều lọt qua con mắt lười biếng của mọi người.

Chúng ta đi trên mặt đất nhưng chúng ta đâu có luôn nghĩ đến chuyện cúi xuống và thận trọng xem xét một cách tỉ mỉ cái mặt đất ấy, xem xét một cách tỉ mỉ tất cả những gì ở dưới chân ta. Nhưng nếu chúng ta cúi xuống, hoặc hơn nữa, nằm xuống mà quan sát nó thì mỗi tấc đất ta có thể tìm thấy biết bao điều thú vị.

Chẳng lẽ lại không thú gì sao một mảnh rêu không đang để rơi lả tả những bông hoa hình chén nhỏ bé của nó những phấn hoa màu ngọc bích, hoặc một bông mà đề giống như chiếc ngù màu tím ngát của anh lính? Hoặc một mảnh xà cừ tí xíu, nhỏ đến nỗi không thể làm nổi một chiếc gương bỏ túi cho con búpbê, nhưng lại đủ lớn để tràn đầy sắc màu dịu dàng như ánh sáng cua buổi bình minh trên bầu trời Bantích.

Chẳng lẽ mỗi ngọn cỏ đầy ứ nhựa thơm ngào ngạt và mỗi hạt đoạn nhỏ bé đang bay kia lại không phải là tuyệt đẹp sao? Từ hạt đó nhất định sẽ mọc lên một cây đoạn cường tráng.

Có biết bao nhiêu cái ta nhìn thấy dưới chân ta? Về tất cả những cái đó có thể viết một câu chuyện ngắn và những cổ tích. Nghe xong những cổ tích ấy thì người ta chỉ còn biết lắc đầu và bảo nhau: Chao ơi, cái thằng bé dài ngoằng con lão thợ giày Ôđenzê kiếm đâu ra được cái tài năng quý hoá đến thế? Rõ là một thằng phù thuỷ.

Không chỉ có thơ ca của nhân dân đưa con trẻ vào thế giới cổ tích, mà cả kịch. Trẻ con hầu như bao giờ cũng coi kịch như một câu chuyện thần tiên.

Cảnh trí huy hoàng, ánh sáng của đèn dầu, tiếng giáp trụ của những chàng hiệp sĩ kêu lách cách, âm nhạc âm vang giống như tiếng sấm của một trận đánh, những giọt lệ của các nàng công chúa với những hàng lông mi xanh, những tên ác ôn râu lửa tay nắm chặt đốc những lưỡi sứt mẻ, điệu nhảy của đoàn thiếu nữ áo quần mỏng tang. Tất cả những cái đó hoàn toàn chẳng có gì giống thực tại và tất nhiên chỉ có thể xảy ra trong một chuyện thần tiên.

Ở Ôđenzê có một rạp hát của tỉnh. Ở đó chú bé Christian lần đầu tiên được xem một vở kịch mang cái tên bay bướm "Người con gái miền sông Đanuyp", vở kịch làm chú bé sửng sốt và từ đó chú trở thành một tác giả nhiệt tình cho đến trọn đời.

Anđecxen không có tiền đi xem hát. Chú liền thay các vở kịch thực sự bằng các vở kịch tưởng tượng. Chú đánh bạn với anh Pête, một người dán ápphích trong thành phố, giúp đỡ anh, và anh Pête, để trả công cho chú bé, mỗi lần có vở mới lại cho chú một tờ ápphích.

Christian mang ápphích về nhà, lủi vào một góc và sau khi đọc xong tên vở kịch và tên các nhân vật, chú liền nghĩ ra một vở kịch sôi nổi của mình dưới cái tên kịch in trên ápphích.

Chú tưởng tượng như vậy mấy ngày liền. Cứ như thế, một chương trình biểu diễn bí mật của cái nhà hát tưởng tượng trẻ em đã hình thành, trong đó chú là tất cả: là tác giả kịch bản và là diễn viên, là nhạc công và là hoạ sĩ, là người phụ trách ánh sáng và là ca sĩ.

Trong gia đình, Anđecxen là con một và mặc dù bố mẹ nghèo, chú vẫn được sống một cách phóng khoáng không lo, không nghĩ. Cha mẹ không bao giờ phạt chú. Chú chỉ làm độc có một việc là mơ mộng liên miên. Hoàn cảnh ấy đã làm chú thậm chí học hành không được đúng lúc. Chú bắt đầu đi học chậm hơn những đứa trẻ cùng năm sinh và cho đến khi đứng tuổi, nhà văn Anđecxen khi viết văn còn không tin chắc mình viết đúng và vẫn mắc nhiều lỗi chính tả.

Phần lớn thời gian, Anđecxen tiêu khiển bên cái cối xay cũ bên bờ sông Ôđenzê. Chiếc cối xay bị những dòng nước và những tia nước bắn tung toé bao bọc, toàn thân run rẩy vì già yếu.

Những chòm râu xanh của đất bùn từ trong những mảng cối xay thủng lỗ chỗ quyện lấy nhau. Nơi bờ đập, những con cá lười biếng lội trong bèo tấm.

Một người nào đó đã kể lại cho chú bé nghe rằng ngay dưới cái cối xay này, ở đầu bên kia trái đất là nước Trung Hoa và người Trung Hoa có thể dễ dàng đào một đường hầm đến Ôđenzê và họ sẽ bất thần xuất hiện trong những chiếc áo thụng đỏ bằng lụa bóng thêu rồng vàng với những chiếc quạt kiều diễm trong tay trên phố phường của cái thành phố Đan Mạch mốc thếch của chú.

Chú bé đợi mãi sự màu nhiệm đó nhưng không hiểu sao không thấy nó xảy ra.

Ngoài cái cối xay, ở Ôđenzê còn có một chỗ nữa lôi cuốn chú bé Anđecxen. Trên bờ con sông đào có trại của một ông già thuỷ thủ đã về hưu. Trong vườn nhà ông, ông già thuỷ thủ đặt mấy khẩu đại bác nhỏ bằng gỗ và bên cạnh những khẩu đại bác là một chú lính cao lớn, cũng bằng gỗ.

Khi tàu qua sông đào, những khẩu đại bác bắn đạn giả và chàng lính cũng bắn loạn xạ lên trời bằng khẩu súng gỗ của chàng. Bằng cách đó người thuỷ thủ già chào mừng những người bạn có phước của ông- những thuyền trưởng chưa về hưu.

Vài năm sau, Anđecxen đến trại của ông già, lúc đó chàng đã là một sinh viên. Ông lão thuỷ thủ đã mất nhưng một đoàn thiếu nữ xinh đẹp và đầy nhiệt tình, cháu nội của ông già, đã ồn ào ra đón nhà thơ trẻ giữa những vòng hoa.

Chính vào thời gian ấy, lần đầu tiên trong đời, Anđecxen cảm thấy mình yêu một trong số những cô gái nọ. Tình yêu ấy, tiếc thay, lại mờ nhạt và không được đáp lại. Trong cuộc sống không phẳng lặng của ông, những lần say mê đàn bà đã xảy ra đều tương tự như vậy.

Anđecxen đã mơ ước về tất cả những gì chàng có thể nghĩ tới. Cha mẹ chàng thì lại mong mỏi cho chàng có thể trở thành một người thợ may cừ. Mẹ chàng dạy chàng cắt và khâu. Nhưng nếu chũ bé Anđecxen có khâu gì thì đó là những bộ quần áo sặc sỡ cho những con búp bê nhà hát của chú (lúc đó chú đã có một nhà hát riêng của chú trong nhà.) Thay vào công việc cắt quần áo, chú bé đã học được lối cắt giấy điêu luyện thành những hình phức tạp và những cô vũ nữ tí hon đang quay mình trên một chân. Với nghệ thuật ấy Anđecxen đã làm mọi người phải kinh ngạc, ngay cả trong tuổi già của ông.

Tài may vá về sau này đã giúp ích nhà văn Anđecxen. Ông sửa chữa bản thảo nhằng nhịt đến nỗi không còn chỗ chữa thêm nữa. Lúc đó Anđecxen bèn viết những đoạn chữa lên những tờ giấy rời và cẩn thận lấy chỉ khâu vào bản thảo.

Khi Anđecxen vừa mười bốn tuổi thì cha ông mất. Nhớ lại chuyện đó, Anđecxen kể rằng một con dế đã suốt đêm than vãn cho người đã khuất, trong khi đó suốt đem chú bé khóc ròng.

Người thợ giày tính tình nhút nhát, không có gì đáng được người đời để ý đến ngoài việc ông đã tặng cho thế giới con trai của mình- người kể chuyện cổ tích và nhà thơ- đã lìa bỏ cuộc đời trong tiếng nỉ non của con dế sau lò sưởi.

Sau khi cha mất ít lâu, Anđecxen xin phép mẹ ra đi và dùng số tiền ít ỏi dành dụm được, chàng dời Ôđenzê đi tới thủ đô Côpenhagơ để tìm kiếm hạnh phúc, mặc dầu chàng cũng chẳng biết hạnh phúc nó ở chỗ nào.

Trong tiểu sử phức tạp của Anđecxen, khó mà định được đâu là khoảng thời gian ông bắt đầu viết những chuyện thần tiên đầu tay của ông.

Từ thuở còn thơ, trong trí nhớ của Anđecxen đã tràn ngập đủ mọi chuyện thần tiên. Nhưng những chuyện đó còn nấp ở một chỗ kín đáo. Chàng thanh niên Anđecxen trong một thời gian dài tự coi mình là ca sĩ, là diễn viên múa, là người ngâm thơ, là nhà trào phúng, nhà thơ mà nhà biên kịch, là gì cũng được nhưng không phải là người kể chuyện cổ tích. Mặc dầu vậy, giọng nói văng vẳng của những câu chuyện thần tiên vẫn cứ vang lên, lúc thì ở tác phẩm này, lúc thì ở tác phẩm khác của ông, như là tiếng một sợi dây đàn ta vừa động tới rồi lại buông ngay.

Trí tưởng tượng khoáng đạt thâu tóm trong cuộc sống quanh ta hàng trăm tiểu tiết và tập hợp chúng lại trong một câu chuyện chững chạc và thông minh. Người kể chuyện cổ tích không coi thường bất cứ việc gì, dù đó chỉ là cổ một chai bia, một hạt suơng trên chiếc lông mà con vàng anh đã để rơi, hay cái cột đèn rỉ ngoài phố. Bất cứ ý nghĩ mạnh mẽ nhất và đẹp đẽ nhất nào cũng có thể hiện trong sự giúp đỡ bè bạn của những vật giản dị kia.

Cái gì đẩy Anđecxen vào lãnh vực của những chuyện thần tiên?

Chính ông đã thường nói rằng, ông viết những chuyện thần tiên đạt hơn hết trong lúc chỉ có một mình một bóng với thiên nhiên, "nghe giọng nói của thiên nhiên,"nhất là trong thời gian ông nghỉ trong những khu rừng Zêlanđia, những khu rừng dường như bao giờ cũng bị trùm lấp trong một màn sương mỏng và thiêm thiếp dưới ánh lấp lánh yếu ớt của những vì sao. Tiếng biển rì rào xa xa vẳng vào trong những khu rừng rậm rạp nọ tạo cho chúng một vẻ huyền bí.

Nhưng chúng ta cũng biết rằng Anđecxen đã viết nhiều truyện cổ tích trong mùa đông, lúc đang độ tưng bừng những cây thông hội hè của con trẻ và ông đã khoác cho chúng một hình thức tao nhã chỉ có ở những đồ trang hoàng cho những cây thông đầu năm.

Tất nhiên, mùa đông ở ven biển, những tấm thảm tuyết, tiếng củi nổ tí tách trong lò sưởi và ánh sáng chan hoà của đêm đông – tất cả những cái đó đều dành cho những truyện thần tiên. Mà rất có thể câu chuyện xảy ra ở một phố Côpenhagơ đã thúc đẩy Anđecxen trở thành người kể chuyện cổ tích.

Một đứa bé đang chơi trên bậu cửa sổ của một ngôi nhà cũ ở Côpenhagơ.

Đồ chơi cũ của nó không có nhiều, vài cái hộp, một con ngựa bằng giấy bồi cũ kĩ đã mất cả đuôi và bị tắm nhiều lần nên đã bạc hết lông, và một chú lính chì gãy.

Mẹ chú bé- một thiếu phụ trẻ- ngồi thêu bên cửa sổ.

Trong lúc đó, ở cuối phố, về phía hải cảng cũ, nơi những cột buồm tàu bè nghiêng ngả trên nền trời làm ta buồn ngủ, xuất hiện một người đàn ông rất gầy, cao, mặc bộ quần áo đen. Ông ta đi nhanh, dnag đi nhún nhảy, không vững, vung vẩy hai cánh tay dài và nói lẩm bẩm một mình.

Ông ta cầm mũ ở tay và vì thế trông rõ vầng trán rộng thoai thoải, cái mũi khoằm và đôi mắt xám hơi nheo.

Ông không đẹp nhưng duyên dáng và làm người ta có cảm giác ông là người nước ngoài. Một nhánh bạc hà thơm được gài vào khuyết áo đuôi tôm.

Nếu như ta có thể nghe trộm những tiếng lầm bầm của con người không quen biết kia, ta sẽ thấy ông đang ngâm nga những vần thơ:

Ôi hoa hồng dịu êm kí ức ngày xa,

Ta ôm ấp ngươi trong lồng ngực của ta.

Thiếu phụ sau khung thêu ngẩng đầu lên và nói với chú bé: Kìa, ông Anđecxen, nhà thơ của chúng ta đang đi kia. Nghe bài hát ru em của ông, con dễ ngủ lắm đấy. Chú bé ngước mắt lên nhìn người lạ mặt trong bộ đồ đen, vớ lấy chú lính cụt chân duy nhất của chú chạy ra ngoài phố và nhét chú lính vào tay Anđecxen rồi chạy đi ngay.

Đó là một món quà vô cùng hào phóng. Anđecxen hiểu điều đó. Ông gài chú lính chì vào trong khuyết áo đuôi tôm bên cạnh nhánh bạc hà như thể gài một tấm huân chương rồi rút khăn tay, ông khẽ thấm lên mắt. Các bạn ông đã không vô lí khi lên án ông giàu xúc cảm.

Còn thiếu phụ, sau khi ngừng thêu và ngẩng đầu lên, nàng nghĩ rằng nàng sẽ hạnh phúc biết bao, đồng thời cũng sẽ khổ biết bao, nếu như nàng chung sống với nhà thơ kia, giả thử nàng có thể yêu ông. Người ta nói rằng, đến cả nữ danh ca trẻ tuổi Gienin Lundơ mà ông yêu say đắm- mọi người đều gọi nàng là "Gienin chói lọi"-cũng không thể làm Anđecxen từ bỏ bất cứ thói quen nhà thơ nào của ông, bất cứ chuyện bịa nào của ông.

Mà những chuyện bịa đó rất nhiều. Một lần ông đã nghĩ cả đến chuyện gắn vào cột buồm chiếc thuyền đánh cá một chiếc đàn dây để nghe tiếng hát rền rĩ của nó vào mùa gió sầu Tây Bắc thường xuyên thổi vào Đan Mạch.

Anđecxen cho rằng cuộc đời ông là tuyệt đẹp, và gần như không vẩn mây mù, nhưng tất nhiên, đó chẳng qua là nhờ ở tình yêu con trẻ là dấu hiệu xác thực của một nội tâm phong phú. Những người như Anđecxen chẳng thích thú gì việc tiêu phí thời gian và sức lực trong cuộc đấu tranh với những thất bại trong cuộc sống, trong khi xung quanh mình rõ ràng thơ ca đang lấp lánh và cần phải sống trong thơ ca, chỉ bằng thơ ca và không bỏ lỡ cái khoảnh khắc ngắn ngủi khi mùa xuân lướt nhẹ đôi môi trên cây cối. Hạnh phúc biết bao nếu ta không bao giờ nghĩ đến những điều rủi ro trong cuộc sống! Chúng ta đáng gì so với mùa xuân tốt lành và ngát hương kia.

Anđecxen muốn được nghỉ ngơi, và được sống như thế, nhưng thực tại chẳng hề tử tế với ông, mặc dầu ông xứng đáng được như vậy.

Trong đời Anđecxen đã có nhiều, rất nhiều nỗi đau khổ và bực dọc, nhất là trong những năm đầu tiên ở Côpenhagơ, trong những năm nghèo khổ, sống dưới sự bảo trợ khinh thị của các nhà thơ, các nhà văn và các nhạc sĩ đã được người đời công nhận.

Đã quá nhiều lần, ngay cả trong tuổi già của ông, người ta đã cho Anđecxen biết rằng ông chỉ là một người "bà con nghèo" trong nền văn học Đan Mạch, rằng ông – con trai một tên thợ giày và là một kẻ nghèo khó – cần phải biết chỗ đứng của mình giữa các quý ngài cố vấn và các quý ngài giáo sư.

Nói về đời mình, Anđecxen kể lại rằng trong suốt đời ông, ông đã nhiều lần nếm mùi cay đắng. Người ta bịt miệng ông, vu khống ông. Người ta chế giễu ông. Vì lẽ gì?

Vì trong người ông có "máu dân đen", vì ông không giống những tên tiểu nhân hãnh tiến, vì ông không biết sống.

Người ta cố tự không biết cách sống trong cái xã hội trưởng giả ở Đan Mạch, là một khuyết tật nặng nề nhất. Anđecxen chỉ là một cái gai trong xã hội đó. Cái gã kì quặc ấy, cái gã nhân vật đáng buồn cười của thơ ca ấy đã sống dậy và bất thần xuất hiện từ trong một tập thơ ca ấy – theo lời triết gia Kiêckêgorơ - đã quên mất câu thần chú để trở về giá sách bụi bặm của thư viện.

Anđecxen nói về mình như thế này: "Tất cả những gì đó tốt đẹp trong tôi đều bị người ta nhận xuống bùn nhơ." Ông còn nói đến những chuyện cay đắng hơn nữa, tự ví mình với một con chó bị chết đuối mà lũ trẻ còn ném đá, nhưng không phải vì căm ghét mà chỉ là để đùa nghịch cho vui.

Phải, đường đời không trải hoa đối với con người có tài nhìn thấy trong đêm tối bông hoa tường vi lấp lánh trong ánh trăng, con người có tai nghe thấy tiếng càu nhàu của một gốc cây bị đẵn lưu cữu trong rừng.

Anđecxen đau khổ ghê gớm và ta chỉ còn biết nghiêng mình trước tinh thần dũng cảm của con người, trên đường đời của mình, đã không để mất đi tấm lòng mong mỏi điều thiện cho đồng loại, cả niềm khát khao chính nghĩa lẫn khả năng nhìn thấy thi ca ở bất cứ nơi nào có nó.

Ông đau khổ nhưng không khuất phục. Ông công phẫn. Ông tự hào vì sự gần gũi máu mủ của mình đối với những người nghèo khổ, những người dân cày và những người thợ. Ông gia nhập "Liên đoàn thợ thuyền" và là những người đầu tiên trong các nhà văn Đan Mạch, ông đọc cho thợ thuyền nghe những chuyện thần tiên của ông.

Ông thẳng tay và mai mỉa đối với những gì mai mỉa đối với những gì khinh thị con người bình dị, đối với bất công và lừa dối. Trong ông, bên cạnh lòng chân thành của con trẻ, còn có tính châm biếm sâu cay. Ông đã biểu thị tính đó một cách hết sức mạnh mẽ trong câu chuyện cổ tích của ông về ông vua cởi truồng.

Khi nhà điêu khắc Torvanxen qua đời, Anđecxen không thể nào chịu nổi khi nghĩ đến chuyện những kẻ quyền quý Đan Mạch kia sẽ đi diễu một cách khoa trương sau linh cữu Torvanxen đằng trước tất cả mọi người.

Anđecxen sáng tác một bản Cantal khi Torvanxen qua đời. Ông triệu tập con cái những người nghèo khổ trong toàn thành Amxtecđam khi đưa đám Torvanxen, bắt đầu bằng những lời như sau:

Hãy nhường đường cho những kẻ nghèo khó đến với linh cữu.

Kẻ đã xuất thân từ bọn họ.

Anđecxen đã viết về nhà thơ Inghêman, bạn của ông, rằng Inghêman đi tìm những hạt giống thơ trên đất đai của dân cày. Những lời nói đó nói về bản thân Anđecxen còn xứng đáng hơn. Ông đã lượm lặt những hạt thơ từ những cánh đồng dân cày, ấp ủ nó trong tim ông, gieo chúng trong những hoa thơ tuyệt đẹp, chưa từng thấy, chúng đem lại niềm vui cho trái tim những người cùng khổ.

Đã có những năm học tập khó khăn và nhục nhằn khi Anđecxen buộc phải ngồi cùng bàn trong trường cùng với những đứa trẻ ít tuổi hơn ông rất nhiều.

Đã có những năm tâm hồn rối loạn và đó là những vô cùng gian khổ tìm tòi đường đi chân chính cho mình.

Bản thân Anđecxen trong một thời gian dài vẫn không biết những lĩnh vực nào của nghệ thuật là thật xứng với tài năng của ông.

Khi đã về già Anđecxen nói về mình: "Giống như người dân miền núi đục vào vách đá những bậc thang, tôi đã chậm chạp và khó nhọc kiếm lấy một chỗ cho mình trong văn học."

Ông không biết gì về sức mạnh của mình, mãi cho tới khi nhà thơ Inghêman đùa cợt nói với ông:

" Anh có một khả năng quý báu là trong bất cứ cống rãnh nào anh cũng tìm ra được ngọc trai."

Câu nói đó đã làm cho Anđecxen phát hiện được bản thân ông.

Và thế là năm thứ hai mươi ba của đời ông, một cuốn sách thực sự Anđecxen đã ra đời: "Chuyến đi chơi trên đảo Amaghe."

Trong cuốn sách đó nhà thơ Anđecxen trước đó không người biết đến đã lướt qua trên nước Đan Mạch. Tương lai dần trở nên sáng sủa.

Dùng ngay số tiền nhuận bút đầu tiên mà người ta trả cho những cuốn sách đầu tiên của mình, Anđecxen hướng về chuyến đi du lịch các nước châu Âu.

Ta hoàn toàn có quyền gọi những chuyến đi liên tiếp của Anđecxen là những chuyến du lịch, không phải chỉ du lịch trên mặt đất mà còn là du lịc qua các người đương thời vĩ đại của ông. Bởi vì bất cứ nơi nào Anđecxen đặt chân tới, bao giờ ông cũng làm quen với những nhà văn, nhà thơ, nhạc sĩ và hoạ sĩ mà ông yêu mến.

Những sự quen biết như thế, Anđecxen không chỉ coi là dĩ nhiên và còn là cần thiết. Khối óc thông thái và tài năng rực rỡ của những con người đương thời vĩ đại làm tràn ngập con người ông cảm giác về sức lực của chính ông.

Tất cả đời ông đã qua đi trong sự xúc động kéo dài, trong sự thay đôi thường xuyên những đất nước, những thành phố, những dân tộc và những người bạn đường, trong những đợt sóng của "thơ trên đường", trong những cuộc gặp gỡ lạ kì và những suy tưởng cũng không kém phần kì lạ.

Ông viết ở bất cứ nơi nào ông thèm viết. Ai là người có thể đếm được có bao nhiêu vết xước do ngòi but nhọn và hấp tấp của ông để lại trên những bình mực bằng thiếc trong các khách sạn Rôma, Pari, Aphin và Kônxtantinôpôn, Luânđôn và Amxtecđam.

Tôi đã nhắc đến ngòi bút hấp tấp của Anđecxen. Đành phải gác lại câu chuyện về những chuyến du lịch của ông trong đôi phút để giải thích các nói đó.

Anđecxen viết rất nhanh, mặc dầu sau đó ông sửa lại bản thảo rất lâu và khắc nghiệt.

Ông viết nhanh như vậy vì ông có tài ứng tác.

Anđecxen là một kiểu mẫu trong sáng nhất về một người có tài ứng tác.

Tài ứng tác là sự đáp ứng nhạy bén của nhà thơ đối với bất cứ ý nghĩ nào của người khác, bất cứ một kích thích nào từ bên ngoài, là sự biến hoá ngay tức khắc ý nghĩ đó thành những dòng hình tượng và những bức tranh nhịp nhàng, cân đối. Tài đó chỉ có trên cơ sở một trí nhớ tuyệt diệu.

Anđecxen viết cuốn truyện vừa của mình về nước Ý như một người có tài ứng tác. Chính vì thế mà ông đặt tên cho cuốn đó là " Người ứng tác" và rất có thể Anđecxen mang một tình yêu sau sắc và kính trọng đối với Hainơ, phần nào vì ông tìm thấy ở nhà thơ Đức một người bạn đồng nghiệp cũng có tài ứng tác.

Nhưng chúng ta hãy trở lại những chuyến du lịch của Christian Anđecxen.

Trong chuyến du lịch đầu tiên của ông đi trên bờ biển Kattêhat dày đặc hàng trăm tàu buồm. Đó là chuyến đi rất vui vẻ. Vào khoảng thời gian đó, Kattêhat xuất hiện những chuyến tàu thuỷ đầu tiên, tàu Đan Mạch và tàu "Calêđôni." Chúng gây một trận phong ba công phẫn trong đám skippơ của những con tàu chạy buồm.

Khi những chiếc tàu thuỷ chạy, máy hơi nước nhả khói đầy kênh và bối rối đi qua hàng thuyền buồm, chúng bị người ta ngạo báng hết sức tàn tệ. Những tay skippơ bắc loa về phía những chiếc tàu thuỷ và gửi sang những lời nguyền rủa chọn lọc nhất. Họ gọi những con tàu biển kia là "bọn nạo ống khói", "bọn trở khói", "những cái đuôi sấy" và "những cái chậu gỗ thối khắm." Cuộc cãi lộn tàn nhẫn theo kiểu hàng hải ấy làm cho Anđecxen buồn cười.

Những chuyến đi Kattêhat không được tính vào các chuyến đi của Anđecxen. Sau chuyến đi đó bắt đầu những "chuyến du lịch thực sự" của Anđecxen. Ông đã đi vòng quanh châu Âu nhiều lần, đã đến miền tiểu Á và cả châu Phi.

Ở Pari ông làm quen với Victo Huygô và nữ nghệ sĩ vĩ đại Raxen, trò chuyện với Banzắc, đến chơi nhà Hainơ. Ông bắt gặp nhà thơ Đức đang ngồi với bà vợ Pari kiều diễm của ông, chung quanh bà là một đám trẻ ồn ào. Nhận thấy vẻ lôi cuốn của Anđecxen (trong thâm tâm ông thường vẫn sợ con trẻ.) Hainơ nói:

Ông đừng sợ. Đây không phải các cháu đâu. Chúng tôi mượn của bà con hàng xóm đấy.

Đuyma dẫn Anđecxen đi xem hát ở các rạp rẻ tiền ở Pari, còn Anđecxen thì một hôm bắt gặp Đuyma đang viết cuốn tiểu thuyết thường kì của ông, Đuyma lúc thì ầm ầm chửi nhau với những nhân vật của mình, lúc thì nghiêng ngả vì cười sặc sụa.

Vecne, Suman, Menđensơn, Rôtxini và Lis biểu diễn các tác phẩm của họ ch Anđecxen nghe. Anđecxen gọi Lis là "linh hồn giông tố trên những dây đàn."

Ở Luânđôn, Anđecxen gặp Đickens. Hai người nhìn thẳng vào mắt nhau. Anđecxen không chịu nổi, quay mặt đi và khóc. Đó là những giọt nước mắt của lòng khâm phục trước trái tim vĩ đại của Đickens.

Sau đó, Anđecxen đến thăm Đickens ở ngôi nhà nhỏ của ông trên bờ biển. Ngoài sân, một người Ý đang buồn bã quay phong cầm Bacbary, bên ngoài cửa sổ, trong tranh tối tranh sáng, ánh lên lửa hải đăng, những con tàu lộc ngộc từ trong sông Thames ở bờ biển, đi qua nhà, còn bờ bên kia sông thì rực sáng như than bùng cháy- đó là những nhà máy và những xưởng sửa chữa tàu biển nhả khói.

Nhà tôi đầy trẻ- Đickens nói với Anđecxen và vỗ tay một cái. Lập tức mấy đứa trẻ con trai và gái Đickens chạy vào phòng, vây lấy Anđecxen và hôn ông để cám ơn ông vì những câu chuyện cổ tích của ông.

Nhưng nơi Anđecxen thường đến nhiều hơn hết và ở lâu hơn hết là ở Ý.

Rôma đối với ông, cũng như đối với rất nhiều nhà văn, hoạ sĩ nước ngoài, đã trở thành tổ quốc thứ hai. Một lần Anđecxen đi xe ngựa trên đất Ý. Đó là một đêm xuân đầy những ngôi sao lớn. Mấy cô gái quê ngồi vào xe. Trời tối đến nỗi hành khách không thể nhìn thấy rõ nhau. Nhưng mặc dầu họ không nhìn rõ nhau, một câu chuyện đùa vui vẻ đã bắt đầu trong đám hành khách. Phải đêm đó trời tối đến nỗi Anđecxen chỉ nhận thấy những đôi môi ướt của các cô gái bóng lên.

Ông bắt đầu kể cho các cô gái nghe những câu chuyện về chính họ. Ông nói về họ như những nàng công chúa trong chuyện thần tiên. Ông nói say mê. Ông ca ngợi những cặp mắt xanh màu lá cây đầy bí ẩn, những bím tóc thơm ngát, những đôi môi hồng và những hàng lông mi nặng của các cô.

Mỗi cô gái đều đẹp theo cách riêng trong sự mô tả của Anđecxen. Mỗi cô đều thấy hạnh phúc theo cách riêng của mình. Các cô gái cười bối rối và mặc dầu trời tối, Anđecxen vẫn nhận thấy những giọt lệ long lanh trong mắt mấy cô trong bọn họ. Đó là những giọt lệ biết ơn đối với người bạn đồng hành lạ lùng và tốt bụng. Một cô trong bọn họ yêu cầu Anđecxen tả ông cho họ biết.

Anđecxen không đẹp trai. Ông biết điều đó. Nhưng lúc này ông đây ông mô tả ông như một chàng trai thân hình cân đối có duyên, với nước da mai mái. Chàng trai đó có một tâm hồn đang run rẩy chờ đợi tình yêu.

Cuối cùng chiếc xe dừng lại ở một thị trấn heo hút, nơi các cô gái đi đến. Đêm trở nên tối hơn. Các cô gái chia tay cùng Anđecxen, hơn nữa, mỗi cô khi từ biệt còn tặng người lạ mặt kì quặc kia một cái hôn nồng nhiệt và dịu dàng.

Chiếc xe chuyển bánh. Khu rừng ồn ào bên ngoài cửa xe, những con ngựa thở phì phì và những chùm sao thấp của nước Ý toả sáng trên đầu. Và Anđecxen cảm thấy mình hạnh phúc như vậy. Ông cảm ơn những điều bất ngờ xảy đến trên đường, cảm ơn những cuộc gặp gỡ thoảng qua và đáng yêu.

Nước Ý đã chiếm được lòng Anđecxen. Ông đã yêu tất cả mọi vật ở đó: những cái cầu đá chằng chịt dây leo, những mặt nhà bằng đá cẩm thạch đã đổ nát, những đứa trẻ da nâu rách rưới, nghiên cứu cánh rừng cam dại Vơnidơ - "bông sen úa", những pho tượng thánh Latêran, khí trời mùa thu ngây ngất và ớn lạnh, những mái vòm lấp lánh trên thành Rôma, những bức tranh cổ, nắng dịu dàng và nhiều ý nghĩ sáng tạo mà nước Ý đã sinh ra trong trái tim ông.

Anđecxen qua đời năm 1875.

Mặc dầu những rủi ro thường gặp, ông đã được hưởng hạnh phúc chân chính, làm người mà nhân dân nước ông yêu mến.

Tôi không dẫn ra đây tất cả những gì Anđecxen đã viết. Cái đó có lẽ cũng chẳng cần thiết. Tôi chỉ muốn phác qua một hình ảnh vội vàng của nhà thơ và người kể chuyện cổ tích ấy, con người kì quặc đáng yêu ấy, người mà đến lúc chết vẫn là một đữa trẻ chân thành, con người có tài ứng tác, đầy hào hứng và người có tài chiếm lĩnh tâm hồn người – cả trẻ con lẫn người lớn.

Ông là nhà thơ của người nghèo mặc dầu những đức vua coi việc được bắt bàn tay gầy guộc của ông là một vinh dự.

Ông là ca sĩ bình dân. Cả cuộc đời ông chứng tỏ kho báu cua rnghệ thuật chân chính chỉ có ở trong tri thức của nhân dân và không ở nơi nào khác.

Thơ ca làm cho trái tim của nhân dân được no nê chẳng khác gì triệu triệu hạt bụi nước tí xíu làm bão hoà không khí trên đất đai Đan Mạch. Người ta nói vì thế mà không đâu có những cầu vồng rộng lớn và rực rỡ như ở đây.

Chúc cho những cầu vồng đó sẽ lấp lánh thường xuyên hơn nhưng khải hoàn môn nhiều màu lắm sắc trên nấm mồ của người kể chuyện cổ tích Anđecxen và trên những khóm hồng bạch mà ông yêu mến.§

Vađơma Đa và các nàng con gái

****
Khi gió lướt trên đồng cỏ, cỏ rạp xuống như sóng gợn; khi gió lướt trên đồng lúa, lúa nhấp nhô như biển cả. Hãy nghe gió kể chuyện. Tiếng ca của gió khi gió rung chuyển cây cối trong rừng không giống lúc gió lùa vào các khe và lỗ thủng trên tường thành. Hãy nhìn lên trên cao kia, gió đang lùa mây như lùa một bầy cừu. Bạn có thể nghe thấy tiếng gió như tiếng kèn của người gác đêm vậy. Giờ thì gió lọt qua ống khói vào lò sưởi. Lửa bùng lên, nổ tí tách, chiếu sáng cả gian phòng. Ngồi trầm tĩnh ở nơi ấy nghe tiếng gió thổi thì thú biết bao! À! Gió có thể kể cho bạn nghe những truyện phiêu lưu và truyện cổ tích nữa đấy! Gió còn biết nhiều hơn tất cả chúng ta kia! Hãy nghe gió reo: "Vi vu, vi vu… Mọi việc trôi qua! Mọi việc trôi qua!" Đó là điệp khúc bài ca của gió.

Gió kể:

Bên bờ sông Ben có một toà lâu đài cổ tường dầy màu đỏ. Ta biết rõ từng viên đá xây lâu đài vì xưa kia ta đã từng thấy chúng ở lâu đài Macxtic. Người ta đã phá lâu đài ấy đi và chở đá đi nơi khác, để xây một lâu đài mới. Đó là lâu đài Bôrơby, hiện đang còn.

Ta đã được biết các chủ nhân của lâu đài Bôrơby, nhưng ở đây ta chỉ muốn thuật chuyện Vanđơma Đa và các nàng con gái của ông ta.

Vốn dòng dõi vua chúa nên ông ta rất kiêu hãnh.

Ông ta săn băn và uống rượu giỏi hơn ai hết.

Bà vợ thường bận quần áo thêu vàng dát bạc. Sàn nhà bap giờ cũng bóng loáng. Các phòng ở trang hoàng bằng những tấm thảm rực rỡ và những đồ đạc quý giá, chạm trổ tinh vi. Bà chủ lâu đài đã mang về đây rất nhiều của hồi môn, toàn là vàng bạc châu báu. Hầm nhà đầy ắp rươuh quý. Đàn ngựa đen lực lưỡng hí trong chuồng. Tất cả nói lên cảnh giàu sang của lâu đài Bôrơby.

Họ có ba nàng con gái xinh đẹp tuyệt vời: Iđa, Gian và Đôrôtê. Tôi vẫn còn nhớ tên các nàng.

Họ là những người giàu sang, quý phái sống trong cảnh xa hoa, gấm vóc. Vi vu…Tất cả đều trôi qua!

Gió kể tiếp:

_ Ở nơi đây, không như ở các lâu đài khác, ta chẳng hề thấy bà chủ quý phái ngồi quay tơ trong phòng cùng với bọn thị tỳ. Bà thường chơi đàn, hát các bào hát cổ Đan Mạch và cả những bào hát bằng tiếng nước ngoài nữa. Cuộc sống trong lâu đài thật là náo nhiệt! Khách khứa gần xa thường ra vào tấp nập. Tiếng ca nhạc và tiếng cốc chén chạm nhau vang lên không ngớt, át cả tiếng gió thổi. Đây là nơi ngự toạ của khoái lạc và kiêu hãnh.

Một buổi sáng tháng năm ta ở phía Tây thổi về, sau khi đã thổi dạt nhiều tàu bè vào bờ bán đảo Giuytlăng. Ta rong ruổi qua đồng bằng và trên bờ biển có những khu rừng xanh tươi. Ta thổi qua Fiôni, rồi ào ào vượt qua sông Ben.

Tới khu rừng dẻ gai, gần lâu đài Bôrơby, trên bờ Xêlăng, ta dừng lại nghỉ ngơi. Trẻ con trong làng vào rừng nhặt cành củi khô, những cành dài nhất và khô héo nhất, đem về bãi rộng trong làng chất thành đống, nhen lửa rồi ca hát, nhảy múa xung quanh.

Đến đây ta im lặng. Bỗng ta thổi nhè nhẹ vào cành cây khô mà một em trai xinh nhất đám vừa đặt lên đống củi. Ngọn lửa bùng lên và em bé châm lửa được bầu làm chúa tể cuộc vui.

Em được ưu tiên chọn một em làm bạn trong số các em gái. Thật là một cuộc vui lành mạnh, vui hơn tất cả các cuộc vui trong lâu đài Bôrơby cao ngất kia.

Vừa lúc đó, một chiếc xe dát vàng, có sáu ngựa kéo, đi tới. Trên xe có một bà bá tước và ba nàng con gái xinh đẹp, dịu dàng, một người trông như đoá hoa hồng, một người như đoá hoa huệ và người thứ ba như đoá dạ hương lan màu xanh nhạt. Bà mẹ cũng đẹp rực rỡ như một đoá uất kim hương. Bà ta ngồi cứng như gỗ, chẳng thèm nhìn đến những đứa trẻ đã ngừng nô đùa và đang cúi đầu chào.

Ta trông rõ ba cô con gái xinh đẹp và tự hỏi ai sẽ xứng đáng làm bạn với họ? Có lẽ phải là những chàng hiệp sĩ, hoặc những bậc hoàng tử mới sánh vai được với các nàng.

Vi vu, vi vu… Tất cả sẽ trôi đi!

Chiếc xe qua rồi, lũ trẻ con lại tiếp tục nhảy múa. Trong khắp làng mạc ở Bôrơby, Giarơby, dân làng đều vui chơi như vậy để đón chò mùa hạ. Đến đêm, gió kể tiếp, khi ta nổi lên ào ào, bà chủ lâu đài đã ngủ lịm đi để rồi không bao giờ thức giấc nữa. Bà ta đã qua đời, như tất cả mọi người.

Vanđơma sống trong một thời gian âm thầm và lo âu.

Ông ta tự nhủ: "Ngọn cây cứng cáp nhất cũng có lúc phải uốn mình, nhưng nó vẫn có thể vươn lên được." Các nàng con gái và gia nhân trong lâu đài ai cũng khóc và thương xót bà quý phái. Bà ta đã mất và ta cũng sẽ đi nơi khác, vì tất cả mọi vật đều trôi đi! Vi vu, vi vu…

Gió kể tiếp:

Nhưng rồi ta lại trở lại xứ Fiôni và sông Ben. Ta đã từng ngồi trên bờ biển, gần Bôrơby và trong khu rừng sến huy hoàng. Nơi ấy là nơi trú ngụ của loài cò diệc, chim cu, quạ lam và cả cò đen nữa. Lúc ấy đã sang xuân. Một số chim cò đã đẻ trứng, một số trứng đã nở. Bỗng nhiên có sự huyên náo khác thường; chim cò bay vút cả lên mà gào. Có tiếng rìu đốn cây đều đều; người ta sắp phá trụi cả khu rừng! Vanđơma Đa muốn đóng một chiếc thuyền cao ba tầng mà hẳn là nhà vua sẽ mua cho ông ta. Vì thế ông đã ngả rừng nơi trú ngụ của chim chóc và cũng là mục tiêu của các thuỷ thủ nữa. Đàn cú sợ hãi bay đi trốn vì tổ của chúng bị phá tan. Điên lên vì đau đớn và tức giận, chúng bay lượn trên khu rừng mà kêu gào. Ta hiểu những tiếng kêu thất vọng ấy. Qua đen và quạ khoang gào lên: "Bị tống cổ rồi! Bị tống cổ rồi! Quạ! Quạ!"

Và ở giữa khu rừng, Vanđơma Đa và ba cô con gái cùng một đoàn tiều phu đứng đó phá lên cười khi nghe thấy tiếng kêu man rợ của bầy quạ. Riêng cô con gái út, Anơ Đôrôtê, thấy mủi lòng thương xót khi người ta định ngả một gốc cây trên đó có tổ quạ đen, một lũ quạ con đang thò đầu ra ngoài. Cô khóc lóc van xin người ta tha cho chúng. Thế là cây ấy được để lại.

Họ đẵn cây, cưa gỗ và đóng một chiếc tàu ba tầng. Người trông nom việc đóng tàu không phải là con nhà quyền quý nhưng trí thông minh có thừa. Đôi mắt và vầng trán anh biểu lộ trí óc sáng tạo của anh. Vanđơma và Iđa, cô con gái cả mười lăm tuổi, rất thích nghe anh nói chuyện. Trong khi thiết kế một chiếc tàu cho người cha, anh cũng xây dựng trong mộng một toà lâu đài mà anh và Iđa sẽ ngồi bên nhau như đôi vợ chồng. Nhưng nếu lâu đài không được xây bằng đá, trang hoàng lộng lẫy, có vườn hoa và rừng cây bao quanh thì giấc mộng ấy sẽ không thể thành sự thực được. Mặc dù có một số kiến thức khoa học, khả năng của anh cũng rất có hạn. Vi vu, vi vu… Mọi việc trôi qua! Ta đi xa. Và anh ta cũng phải đi xa, không thể lưu lại ở nơi đây. Cô bé Iđa đã quên anh, tất nhiên là như thế. Đoàn ngựa đen được mọi người tấm tắc khen ngợi đang dậm chân trong tàu.

Một vị thủy sư đô đốc được nhà vua cử đến để xem tàu và bàn việc mua bán. Ông ta không ngớt khen ngợi đàn ngựa tuyệt đẹp kia. Ta nghe rất rõ vì ta bay theo đoàn người, lọt vào cổng chuồng ngựa và làm tung bay những mảnh rơm xung quanh họ. Vanđơma thích vàng, đô đốc thích đàn ngựa mà ngài rất mực ca tụng. Chả ai hiểu ra sao cả. Chiếc tàu không bán được, nằm lì trên bến. Tàu được bọc toàn bằng gỗ ván như một chiếc tàu của ông già Nôê trong kinh thánh. Chẳng bao giờ tàu được hạ thuỷ cả. Vi vu, vi vu…

Mọi việc trôi qua, trôi qua! Đó la thất bại đầu tiên của Vanđơma.

Mùa đông, tuyết phủ khắp mặt đất, những tảng băng trôi dạt trên dòng sông Ben. Ta đẩy chúng sang hai bờ. Từng đàn quạ, đủ các loại, đen thũi như nhau, kéo đến. Chúng đậu trên chiếc tàu bị bỏ chỏng chơ trên bờ sông. Chúng lớn tiếng kêu than về cánh rừng đã trụi thui lủi, về các tổ chim đã bị phá hoại, về cảnh quạ con, quạ già không có chỗ ở, về tất cả những tai hoạ đã xảy ra do việc đóng chiếc tàu gây nên, chiếc tàu kiêu căng chẳng bao giờ được nổi trên mặt nước!

Ta cuộn tuyết lên từng đám. Tuyết đánh đống quanh thân tàu và lên đến tận nóc. Thế rồi ta cất cao giọng lên như lúc ta thổi thành cơn giông tố. Ta làm đủ cách để cho tàu biết thế nào là cuộc đời trên biển cả. Vi vu, vi vu… Mọi việc trôi qua!

Đông qua, hạ tới. Các mùa nối tiếp nhau như gió thoảng qua. Tuyết tan, hoa táo nở, lá vàng lại rụng.

Tất cả đều trôi qua. Đời người cũng vậy. Các cô con gái Vanđơma hãy còn trẻ măng. Nàng Iđa mơn mởn như một bông hồng, vẫn đẹp như lúc anh chàng đóng tàu phải lòng nàng. Có lúc ta thổi vào bộ tóc màu hạt dẻ của nàng khi nàng ngồi trầm ngâm dưới gốc táo trong vườn; ta rũ tóc nàng ra và phủ đầy hoa lên. Qua hàng cây, nàng đang ngắm vầng thái dương đỏ thẫm và chân trời màu vàng.

Gian, cô em nàng, tựa như bông huệ tươi tắn và thanh tú; nhưng điệu bộ nàng cứng nhắc, kiêu kì, giống như mẹ nàng.

Nàng hay vào gian phòng lớn, nơi treo những bức chân dung của gia đình. Các bà trong tranh ăn vận toàn nhung và lụa, trên bộ tóc xoã úp một chiếc mũ nạm ngọc. Các bà nom thật có duyên! Các ông chồng thì phủ đầy giáp thép hoặc áo choàng lông loại sang nhất. Các ông không đeo gươm bên sườn mà lại đeo bên đùi. Một ngày kia chân dung của Gian sẽ treo ở đâu nhỉ? Và người chống quý phái của nàng diện mạo sẽ ra sao? Nàng nghĩ ngợi nhiều đến chuyện đó. Nàng lẩm bẩm một mình. Ta bay theo nàng suốt dọc hành lang dài đi tới gian phòng lớn nên ta nghe thấy hết.

Anơ Đôrôtê, như một đoá dạ hương xanh nhạt là một cô bé mười bốn tuổi. Tính nàng trầm lặng và chín chắn. Nàng có cặp mắt to, xanh tựa làn sóng, bao giờ cũng mơ màng; một nụ cười tươi tắn luôn luôn nở trên môi nàng. Ta không thể nào thổi mất nụ nười ấy đi, vả chăng ta cũng không muốn làm việc ấy.

Ta thường gặp nàng trong vườn hay trên đồng nội. Nàng hái hoa và bứt cỏ, những loại hoa cỏ mà cha nàng có thể nấu thành thuốc. Vanđơma là người cứng rắn và kiêu ngạo, nhưng rất thông thái. Mọi người đều thấy thếvà thường bàn tán về ông ta. Ngay trong mùa hè ông cũng đốt lò. Cửa buồng ông đóng kín mít. Cả ngày lẫn đêm ông ở trong ấy và chẳng bao giờ nói với ai công viêc của ông. Trong sự yên tĩnh con người mới nghiên cứu được những bí hiểm của thiên nhiên. Ông lại muốn tìm ra vật quý báu nhất trên đời, ấy là vàng đỏ.

Chính vì thế mà khói luôn luôn nhả trên ống khói của lâu đài. Chính vì thế mà trong buồng Vanđơma lúc nào cũng có những ngọn lửa và tia lửa từ trong lò phụt ra. Ta biết, vì ta có mặt ở nơi ấy!- Gió nói tiếp. Mọi vật trôi qua, trôi qua! Ta rít lên trong ống khói. Mọi vật sẽ phải biến thành than, tro và sẽ tan ra thành khói. Ngay cả Vanđơma nữa rồi cũng bị cháy tan ra thành khói thôi! Vi vu, vi vu… Mọi vật trôi qua! Nhưng Vanđơma vẫn ngồi yên không động đậy.

Những con ngựa oai phong trong chuồng biến đâu cả rồi nhỉ? Tất cả vàng bạc, súc vật, trang trại, lâu đài biến đi đâu tất cả rồi nhỉ? Than ôi, chúng chảy thành nước cả rồi, chảy tan trong chiếc nồi nấu vàng, nhưng chẳng nấu ra tí vàng nào cả.

Chẳng còn chút gì trong các ngăn tủ và trong kho lúa. Người hầu thì giảm đi mà chuột nhắt thì tăng lên. Một mảnh kính cửa sổ nứt, rồi thêm mảnh nữa vỡ tan tành; ta chẳng còn cần phải vào lối cửa lớn nữa!

Ta thổi thấu khắp lâu đài như người gác đâm thổi tù và. Nói thế thôi chứ người gác đêm cũng chẳng còn nữa. Ta làm quay chiếc chong chóng trên chòi canh, chong chóng rít lên như tiếng gáy của người gác đêm trước kia. Bữa ăn của chủ nhà cũng trở nên rất đạm bạc. Cửa lớn đã bật tung ra khỏi ngõng. ta ra vào tự do nên trông thấy rõ tất cả.

Sống giữa khói than và tro bụi, qua bao lo âu và nhiều đêm thức trắng, râu tóc Vanđơma đã ngả thành màu xám, nước da tái nhợt, nhưng đôi mắt của Vanđơma vẫn ánh lên một niềm hy vọng, vì ông ta thèm khát chế ra vàng.

Ta thổi hắt khói và than vào mặt vào râu ông ta. Lão già khốn khổ! Không phải là vàng mà là những món nợ lão tìm thấy trong chiếc nồi nấu vàng. Còn ta, ta ca hát qua những tấm kính vỡ và khe tường. Ta thổi vào tận tủ của các cô con gái, nơi treo nhẽng tấm áo đẹp trước kia, giờ đã rách gần hết. Khi còn trẻ con chẳng bao giờ các nàng được nghe bên nôi bài hát cổ: "Cuộc đời những người quyền quý là một cuộc đời đầy phiền muộn."

Chẳng còn củi để mà đốt mà cũng chẳng còn rừng mà lấy củi nữa. Băng giá trắng toát, vỡ lạo sạo dưới chân. Ta luồn qua hàng hiên, qua các khe kẽ. Ta thấy các nàng con gái của Vanđơma nằm trong giuờng để cho đỡ rét. Còn Vanđơma thì đắp lên người một tấm da. Chẳng còn gì để ăn, chẳng còn gì để sưởi nữa! Cuộc đời một vị quý tộc phá sản là như thế đấy! Vi vu, vi vu…mọi việc trôi qua! Ta thét lên. Nhưng Vanđơma vẫn không cựa quậy.

"Đông qua, rồi mùa xuân sẽ tới, lão nói. Sau cơn bx cực tới tuần thái lai. Lau đài đã cầm cố rồi, thế là hết! Không! Ta sẽ có vô số vàng; hãy gắng chịu đựng đến ngày lễ phục sinh."

Sáng ngày lễ Phục sinh, tiếng chuông nhà thờ vang lên. Vầng thái dương làm tươi vui hẳn bầu trời. Trong cơn lo lắng đến phát sốt lên, Vanđơma đã thức thâu đêm, nấu chảy rồi để nguội, pha trộn, rồi gạn chắt. Ta nghe thấy lão thở dài như một tâm hồn đang đau khổ, rồi lão lại cầu nguyện, nín thở. Đèn đã tắt ngúm mà lão cũng chẳng để ý gì đến cả. Ta thổi vào đám củi tàn; ánh lửa soi sáng bộ mặt lão, trắng bệch như vôi. Mắt lão sâu hoắm, trợn tròn, to ra, to mãi như muốn bật ra ngoài.

"Vàng đây rồi! Lão reo lên. Nó lấp lánh, đặc sệt và tinh khiết biết bao!" Lão nhấc bình thuỷ tinh đựng nước luyện kim lên, tay run run, mồm lắp bắp: "Vàng! Vàng!" Lão choáng váng, chỉ thổi khẽ thôi ta cũng có thể xô lão ngã; nhưng ta chỉ thổi vào đám than hồng đỏ rực, rồi ta theo lão vào phòng các cô con gái đang rét cầm cập. Quần áo, râu tóc lão phủ đầy tro bụi. Lão đứng vươn cao giữa phòng, giơ cao bình thuỷ tinh và hét lên: "Chế ra vàng rồi!" Thuỷ tinh lấp lánh trong ánh mặt trời. Tay lão run lên. Chiếc bình rơi xuống đất vỡ tan thành muôn mảnh. Thế là đi đời niềm hy vọng cuối cùng của Vanđơma. Vi vu, vi vu… Mọi việc trôi qua, trôi qua! Thế là ta ra khỏi lâu đài của kẻ tìm vàng.

Vào những ngày ngắn ngủi cuối năm ở phương Bắc, sương sáng đọng hạt trên những quả bạc màu đỏ và trên những cành cây trụi lá, ta lại trở lại vui vẻ; ta tẩy sạch bầu trời bằng hơi thở của ta và làm gãy vài cành cây, công việc thường phải làm, chẳng có gì là nặng nhọc lắm. Ở lâu đài Bôrơby , Ovơ Ramen, chủ nợ của Vanđơma đang ngồi ở đây với bản khế ước cầm cố gia sản và lâu đài Vanđơma. Ta gõ nhịp vào những tấm kính vỡ, làm dập các tấm cửa sắt han rỉ, rít qua các lỗ và các khe cửa. Vi vu, vi vu…

Ovơ Ramen, có lẽ không thích ở đây lắm.

Iđa và Anơ-Đôrôtê oà lên khóc. Gian ngồi cắn ngón tay, cứng nhắc và xanh xao. Ovơ Ramen mời Vanđơma ở lại suốt đời ở lâu đài, nhưng việc ấy đề ra chẳng được một lời cảm ơn của Vanđơma. Ta thấy Vanđơma ngửng đầu lên, kiêu hãnh hơn bao giờ hết. Ta bèn tỏ ý thán phục bằng cách thổi mạnh vào lâu đài, vào rặng cây bồ đề, mạnh đến nỗi một cành to, không bị mục nát, cũng gẫy tan ra, rơi xuống trước cửa.

Hôm ấy là một ngày nặng nề, một bước gian nan phải vượt qua nhưng Vanđơma đã tỏ ra can đảm và kiêu hãnh.

Họ chỉ còn quần áo mặc trên người và một bình thuỷ tinh mới mua đựng nước luyện kim vét dưới đất, thứ nước quý báu hứa hẹn nhiều, nhưng thực tế chẳng đem lại kết quả gì. Lão chúa đất, trước kia giàu có biết bao, nay ôm chặt cái bình trước ngực, một tay cầm gậy, cùng các con ra khỏi lâu đài Bôrơby. Ta thổi hơi lạnh buốt vào đôi má nóng rực, lay chòm râu xám và bộ tóc bạc của lão. Ta hát như mọi khi! Vi vu, vi vu… Mọi việc trôi qua, trôi qua! Thế là hết hạnh phúc.

Iđa và Anơ-Đôrôtê, ngập ngừng đi cạnh lão. Gian, trước khi đi theo chị và em, ngập ngừng một lát, rồi bỗng quay lại ngưỡng cửa. Nàng ngắm nghía những viên đá đỏ trên tường thành, mang từ lâu đài Máctít về, và nàng liên tuởng đến các cô con gái đã sống trong lâu đài ấy.

Nàng cả cầm tay nàng út

Và cả hai ra đi khắp thế gian.

Phải chăng nàng nghĩ tới bài hát ấy? Ngày nay, các nàng gồm ba người và thêm cả ông bố cùng đi.

Các nàng đi qua con đường mà trước kia nàng đã từng ngồi xe dạo qua. Các nàng lếch thếch như những kẻ ăn xin, đi đến ngôi nhà bằng đất ở miền Xmittrơp mà Vanđơma thuê 10 mác một năm… Tường nhà trần trụi. Đàn quạ bay lượn xung quanh nhà vừa gào lên: "Bị tống cổ ra! Bị tống cổ ra! Quạ! Quạ!" như chúng đã từng kêu trong khu rừng Bôrơby khi người ta triệt hạ cây cối.

Vanđơma và các cô con gái rất hiểu chúng muốn nói gì. Ta vội thổi ngay vào tai họ vì họ chẳng cần nghe những lời ấy. Họ bước vào ngôi nhà bằng đất, còn ta, ta vượt qua đồng bằng và đàm lầy, qua các bờ rào bờ giậu và những khu rừng trụi lá để thổi tới biển cả và các xứ sở khác. Vi vu… Mọi việc trôi qua! Mọi việc trôi qua! Vanđơma và các cô con gái sau này ra sao nhỉ? Gió kể tiếp. Người mà ta đã gặp lại là đoá dạ hương lan xanh nhạt. Lúc ấy nàng đã già cả, lưng còng. Năm mươi năm đã qua. Nàng là người cuối cùng trong gia đình còn sống và còn nhớ lại mọi chuyện cũ.

Giữa đồng bằng, trong thành phố Viho, mọc lên toà nhà mới và sang trọng của ông mục sư, xây bằng đá đỏ, khói nghi ngút bốc lên từ ống khói. Bà chủ nhà đáng yêu và các cô con gái đứng gần cửa sổ nhìn qua cành lá leo trên cửa sổ về phía đồng bằng màu nâu nhạt. Họ ngắm gì thế nhỉ? Họ ngắm một tổ cò làm trên một túp lều tiều tụy. Mái lều phủ đầy rêu và rạ, hay nói cho đúng hơn, phủ bằng tổ cò.

Cái lều thật là thảm hại! Người ta có thể nhìn ngó nó, nhưng không nên đụng vào nó.

Gió nói: Ta thận trọng thổi qua. Nếu không có tổ cò thì có lẽ người ta đã phá cái túp lều đó đi rồi, vì nó làm xấu cả cánh đồng. Ông mục sư chẳng nỡ đuổi người ở trong lều đi, thế là túp lều còn lại và người đàn bà đáng thương còn được ở trong ấy. Bà ta phải cảm ơn con chim của xứ Ai Cập, hay chính cò phải cảm ơn bà đã cứu sống anh em nó ở khu rừng Bôrơby năm xưa. Lúc ấy người đàn bà đáng thương mới chỉ là một em bé, một đoá dạ hương lan xanh nhạt và dịu dàng: Anơ-Đôrôtê. Bà ta còn nhớ tất cả các chuyện cũ.

_ Phải, bà nói, con người ta có thể thở dài như gió qua các bụi cây và lau sậy! Chẳng có lấy một tiếng chuông thỉnh trên mồ Vanđơma Đa! Không có em học trò nghèo nào hát bản kinh cầu nguyện khi người ta đem đi chôn ông chúa lâu đài Bôrơby. Mọi sự trên đời đều có ngày kết thúc, ngay cả cảnh nghèo khổ cũng vậy. Chị Iđa tôi đã lấy một người nông dân. Cha tôi rất đau khổ về việc đó. Chả là con rể ông chỉ là một người bình dân mà ông thường khinh rẻ. Than ôi! Cha nằm dưới đất có lẽ sướng hơn trên này. Cả chị Iđa nữa. Còn tôi, mụ đàn bà đáng thương này, bao giờ mới hết kiếp? Thượng đế chí minh, xin người hãy giải thoát cho tôi!

Trên đây là lời khấn nguyện trong túp lều của Anơ-Đôrôtê. Nói về Gian, chính ta đã cứu nàng, người táo bạo nhất trong ba cô, gió kể tiếp. Nàng xung vào làm thuỷ thủ trên một chiếc tàu. Nàng luôn lầm lì và mặt mày ủ rũ, nhưng nàng có nghị lực và không than phiền gì cả. Một hôm ta thổi thành bão táp và đã đẩy nàng xuống biển. Ta nghĩ rằng như thế là ta đã giải thoát cho nàng.

Lại đến ngày lễ phục sinh, ngày mà trước kia Vanđơma tưởng là đã chế ra vàng. Bên dưới tổ cò, qua bốn bức tường đổ nát, ta nghe có tiếng người hát nguyện. Đó là tiếng hát cuối cùng của Anơ-Đôrôtê. Nhà không có cửa kính mà chỉ có một lỗ trên tường. Mặt trời như một quả cầu bằng vàng làm cho người hấp hối hồi tỉnh lại; nhưng chẳng bao lâu nữa bà ta chẳng cần đến ánh sáng mặt trời. Chú cò vẫn đứng trên mái nhà cho đến khi bà ta tắt thở. Chính ta đã hát nguyện khi đưa đám bà, cũng như ta đã hát nguyện khi chôn Vanđơma và chỉ có ta biết mộ ông ta ở chỗ nào.

Một thế hệ khác, một thế hệ mới đã đến. Những đường cái cũ trở thành đất đai riêng, những nấm mồ yên tĩnh bị san thành đường đi mới, tiếp đến những con đường sắt chạy trên các nấm mồ và xoá nhoà tên tuổi những người nằm bên dưới. Vi vu, vi vu… Mọi việc trôi qua, trôi qua cả!

Truyện Vanđơma Đa và các nàng con gái thế là hết đấy, các bạn có thể kể hay hơn được thì cứ kể đi. Gió nói rồi ngoắt đi, biến mất.ª

Monday, October 10, 2005

Trong thành có ma trơi

****
Ngày xưa có một người trước kia biết rất nhiều truyện cổ tích, nhưng về sau ông ta bảo với mọi người rằng ông đã quên hết cả rồi, vì Truyện, xưa kia hay đến thăm ông, nay chẳng thấy đến gõ cửa nhà ông nữa.
Chẳng ai biết tại sao thế nhỉ?
Trước hết, vì đã lâu ngày ông bạn của chúng ta chẳng còn nghĩ đến truyện nữa, nhưng về phía Truyện, Truyện chẳng quay trở lại cái xứ sở bị chiến tranh tàn phá rồi lâm vào cảnh nghèo nàn, tang tóc, bạn đồng hành mà nạn binh lửa thường kéo theo sau.
Cò vạc và chim én từ những xứ ấm bay trở về. Chúng chẳng ngờ là tai hoạ đã xảy đến, nhưng khi về đến nơi, chúng thấy tổ ấm đã bị phá huỷ, nhà cửa đã cháy trụi, đồng cỏ tan hoang, ngựa quân thù đã giày xéo lên những ngôi mộ cổ. Tuy nhiên, thời kỳ gian khổ và ảm đạm cũng đã qua, qua hẳn rồi mà Truyện cũng chẳng quay về gõ cửa nhà con người hay kể chuyện.
Hay là Truyện cũng đã tử vong rồi?
Ông bạn của chúng ta nghĩ vậy.
Nhưng Truyện chẳng bao giờ chết.
Đã trọn một năm ông vẫn mong chờ gặp lại Truyện.
-Ước gì Truyện lại đến gõ cửa nhà ta nhỉ?
Rồi ông nhớ lại tất cả những người mà Truyện đã từng đội lốt để đến tìm ông, lúc thì tươi trẻ như mùa xuân, lúc thì dưới hình dạng một thiếu nữ đội chiếc mũ miện bằng lá, cầm cành dẻ gai trên tay. Mắt nàng như nước hồ sâu thẳm trong rừng lấp lánh dưới ánh thái dương. Khi gánh hàng ra và rao bán những dải lụa dài có ghi những bài thơ và truyện cổ tích.
Tuy nhiên, trông đẹp hơn cả là lúc Truyện biến thành một bà lão có bộ tóc màu gio bạc, có đôi mắt to trầm lặng. Bà cụ say sưa kể lại truyện thời xưa, thời mà các nàng công chúa còn kéo sợi trên những cái guồng bằng vàng, bên cạnh những bầy rắn nằm cuộn tròn để chiêm ngưỡng các nàng. Bà cụ kể chuyện nghe đến là mê! Và thỉnh thoảng bà cụ lại kể những truyện hãi hùng đến nỗi người nghe tưởng như mặt đất tràn đầy những máu người. Phải, các truyện ấy, tuy ghê rợn, nhưng sao mà thú vị đến thế. Dù sao, những truyện ấy cũng đã xảy ra từ ngày xửa ngày xưa.
-Bà cụ chẳng quay trở lại gõ cửa nhà ta nữa hay sao? Ông bạn chúng ta nghĩ vậy.
Ông nhìn xuống những mảnh gỗ vụn màu đen rải rác trên sàn nhà. Ông tự hỏi chẳng biết đấy có phải là những vết máu hay là những cánh hoa tang của những ngày đau khổ.
Trong lúc ngồi trầm ngâm ông nghĩ có lẽ Truyện núp trong cọng rơm đang bị gió xoáy tròn trong góc kia chăng? Hay là Truyện núp vào một đóa hoa ép khô trong những pho sách lớn ở tủ sách của mình chăng?
Để được yên lòng, ông ta mở một cuốn sách mới nhất, nhưng trong cuốn ấy không có hoa. Sách nói về truyện Ôgiê xứ Đan Mạch và thuật lại rằng những truyện phiêu lưu của Ôgiê chỉ là do một thày tu người Pháp bịa ra và là một cuốn tiểu thuyết Pháp dịch ra tiếng Đan Mạch. Cái anh chàng Ôgiê xứ Đan Mạch ấy làm gì có thật, do đó, không bao giờ có thể hiện về như nhân dân Đan Mạch vẫn thường tưởng tượng, thậm chí cò người lại tưởng tượng mình là con người ấy. Truyện Ôgiê xứ Đan Mạch cũng giống như truyện Guyôm Ten thôi, chẳng qua chỉ là truyền thuyết cả. Sách dẫn giải điều đó một cách rất khoa học.
-Mặc! Cho dù thế nào cũng được, ông bạn chúng ta tự nhủ, chẳng có thể có đường mòn nếu không có người qua lại.
Ông gấp sách, để vào một chỗ cũ trên ngăn tủ và tới ngửi những đoá hoa tươi trên khung cửa sổ.
Có thể là truyện núp trong những đoá hoa huệ đỏ viền vàng hoặc trong đoá hồng xinh xắn, hoặc có khi trong đoá trà mi diễm lệ. Không phải! Ánh mặt trời lấp lánh giữa hoa, nhưng Truyện nào đâu thấy!
Ông bạn tiếp tục suy nghĩ. Trong những ngày đen tối, nơi đây đã có những đoá hoa còn đẹp hơn thế nữa, nhưng người ta đã ngắt hoa đi, tết thành vòng và đặt lên một chiếc linh cữu cũng có phủ một lá cờ. Có lẽ người ta đã chôn Truyện theo những đóa hoa ấy chăng? Nhưng nếu vậy, ắt là hoa, linh cữu và đất đều phải biết rõ, những ngọn cỏ mới mọc lên ắt cũng đã kể lại truyện ấy rồi. Có thể, trong những ngày đau khổ, Truyện đã đến gõ cửa nhà ta chăng? Nhưng lúc ấy thì ai còn tâm địa nào mà nghe kể truyện nữa. Mọi tấm lòng còn đang u uất, rã rời và hầu như khó chịu khi nghe thấy tiếng chim muống ríu rít hót và thấy cảnh vật còn trơ lại xanh tươi cùng với mùa xuân. Lúc ấy, chúng ta chẳng thể hát lên được những bài dân ca cổ điển, phải giấu giếm chúng cùng với những tâm tư thầm kín nhất. Phải, có lẽ lúc ấy Truyện đã đến gõ cửa nhà ta, nhưng ta đã không nghe thấy, không niềm nở đón chào nên Truyện đã bỏ đi mất. Ta muốn đi tìm Truyện, ta phải tìm thấy Truyện, dù Truyện ở nơi thôn dã, trong rừng rậm hoặc ngay cả trên những bãi cát bên bờ đại dương.
Tít trên kia, sừng sững một lâu đài cổ, tường vách màu đỏm khía lỗ châu mai, trên đỉnh tháp phấp phới một lá cờ. Gần đấy, một chú hoạ mi cất tiếng hót trong vòm lá cây dẻ trắng, chú nhìn vào hoa mận nở trong vườn, cứ tưởng là hoa hồng. Chính nơi đây, dưới ánh nắng hè, đàn ong làm việc không ngừng và hát vo ve, xúm xít chung quanh ong chúa. Chính nơi đây, vào dịp lễ Nôen, có tiếng kêu của đàn thiên nga và, bên trong toà lâu đài cổ kính, quanh bếp lò, người ta vui vẻ ngồi nghe ca hát và nghe kể chuyện cổ tích. Người tìm Truyện đang rảo bước trên con đường rợp bóng cây dẻ gai, trong khoảng vườn cũ. Chính tại nơi ấy, một hôm gió đã kể chuyện Vađơma và các nàng con gái và thân mẫu của Truyện, biến hình thành một nữ mộc tinh, đã kể cho ông ta nghe truyện Giấc mơ cuối cùng của cây sồi.
Thời còn mồ mả bà nội ông, nơi ấy có nhiều lùm cây, nhưng giờ đây chỉ còn rặt một giống đuôi chồn và tầm ma leo lên trên những pho tượng cổ đổ vỡ. Mắt tượng phủ đầy rêu, nhưng cũng chẳng vì thế mà tượng nhìn kém tinh hơn trước. Người đi tìm truyện chẳng sung sướng bằng những pho tượng ấy, ông ta tìm mà chẳng thấy Truyện đâu cả. Vậy Truyện ở đâu?
Trên đầu ông, quạ khoang bay từng đàn và kêu: “Còn ở xa! Còn ở xa!”
Ông bước ra khỏi vườn, vượt qua cái hào bao quanh lâu đài và bước vào một mảnh đất trồng toàn cây trăn, nơi ấy có một cái lều, sân nuôi gà và sân nuôi vịt. Bà lão chủ nhà ngồi giữa lều, cụ nhớ không sai mảy may tất cả số trứng và số gà con từ khi chúng mới nở đến nay. Cụ chẳng phải là kho truyện mà ông bạn chúng ta đang tìm đâu, cụ chỉ có thể cho ta xem những giấy chứng nhận rửa tội và chứng nhận tiêm chủng, tất cả đựng trong một hộp lớn.
Phía ngoài, không xa nhà mấy, có một cái gò toàn gai góc và kim tước chi.
Nơi ấy có một tấm mộ chí lớn bằng đá, mang ở nghĩa địa thành phố về từ bao năm nay. Đó là tấm bia giương danh một ông thị trưởng. Hình bà vợ và năm cô con gái mặc áo cổ xoè đang đứng chắp tay quanh ông ta được tạc trên bia.
Không thể nào ngắm nghía tấm bia ấy mà tâm hồn không xúc cảm. Tấm bia như kể lại với ta truyện những ngày đã qua. Hơn ai hết, ông bạn chúng ta cũng mủi lòng.
Khi bước tới nơi, ông thấy một chú bướm rất đẹp đậu trên trán ông thị trưởng. Bướm tung cánh, bay lượn rồi lại đậu gần bên tấm mộ chí, như muốn mách rằng nơi ấu có vật báu, đó là một khóm cây chẽ ba, một chạc có bốn lá, mọc liền nhau.
Ông bạn của chúng ta hái lá chẽ ba bỏ vào túi, cho đó là một điềm lành, và nghĩ thầm: “Số đỏ thường lại tiếp vận may. Hạnh phúc cũng quý đấy, nhưng một truyện hay, độc đáo, đối với chúng ta, đáng quý hơn nhiều.” Rủi thay, ông chẳng tìm đâu ra truyện cả.
Mặt trời lặn, to tướng và đỏ rực. Hơi khói từ đồng cỏ bay lên.
Mụ phù thuỷ Đầm lầy đang đun nấu đấy.
Một tối kia, ông bạn của chúng ta đang ngồi một mình trong buồng, nhìn ra vườn hoa, đồng cỏ trước mặt và, xa tí nữa, là đầm lầy. Trăng sáng vằng vặc. Hơi khói tỏa lên. Đồng cỏ nom hệt một hồ nước lớn. Vả chăng, theo truyền thuyết, đó chính là một hồ nước lớn. Ánh trăng trùm lên cảnh vật một vẻ huyền ảo. Ông bạn của chúng ta nghĩ đến cuốn sách đã từng đọc, sách nói rằng Guyôm Ten và Ôgiê xứ Đan Mạch chẳng hề có thật, nhưng đã trở thành một thần tượng của nhân dân cũng như cái hồ này vậy. Ông tự nhủ:
-Thế thì có ngày Ôgiê xứ Đan Mạch cũng sẽ hiện về.
Đang suy nghĩ như thế, bỗng ông nghe thấy một tiếng đập khá mạnh vào cửa sổ. Chim chăng? Dơi chăng? Cú chăng? Nếu chúng có bay chạm vào cửa cũng chẳng ai mở làm gì. Nhưng cửa sổ bỗng mở toang ra, một bà già hiện lên nhìn ông chằm chằm. Ông tự hỏi:
-Mụ ta muốn gì thế nhỉ? Mụ ta là ai thế nhỉ? Mụ lên được tầng gác này chả biết có cần đến cầu thang không nhỉ?
Bà già nói:
-Nhà ngươi có cây chẽ ba, mỗi chạc có bốn lá, ở trong túi phải không? Có bảy chẽ tất cả, trong đó có một chẽ có sáu lá.
-Mụ là ai?
-Ta là phù thuỷ đầm lầy, chuyên nghề bứt cỏ nấu rượu bia. Ta đang mải mê với công việc thì một tên giúp việc đã tháo nút dưới đáy thùng làm bia chảy ra, thế là đi tong cả.
-Cho tôi biết…
-Chờ đấy, ta bận tí việc.
Nói rồi, mụ biến mất.
Ông bạn của chúng ta sắp sửa đóng cửa sổ lại thì mụ lại hiện lên. Mụ nói:
-Xong việc rồi đấy. Nhưng ngày mai nếu tốt trời thì ta bận gây nốt nửa thùng rượu bia. Thế nào? Ngươi định hỏi gì ta đấy? Ta trở lại, vì bao giờ ta cũng giữ lời hứa và cũng vì trong túi ngươi có bảy nhánh chẽ ba, mỗi chạc bốn lá, trong đó có một chạc sáu lá. Chẳng phải ai ai cũng kiếm được loại chẽ ba ấy đâu. Xem nào, ngươi hỏi gì ta thế? Còn đứng đực ra như phỗng ấy thì ta sẽ bỏ về với thùng rượu của ta đấy!
Ông bạn của chúng ta hỏi mụ có gặp Truyện ở đâu không.
-Trời, mụ kêu lên, Truyện của nhà ngươi viết ra nhiều như thế mà còn chưa đủ hay sao? Ta tưởng nhà ngươi no Truyện rồi chứ lị! Thời bây giờ người ta mải mê với những cái khác kìa. Ngay cả trẻ con cũng ngấy truyện đời xưa đến tận cổ rồi! Cho con trai điếu xì gà, con gái manh áo mới, chúng thích hơn nhiều. Ngồi mà nghe kể chuyện ư? Xin đủ, xin đủ! Còn trăm công nghìn việc cần hơn thế.
-Thế là thế nào? Mụ chỉ chuyên sống với cóc nhái và ma trơi thì còn biết cái gì khác ở đời này kia chứ?
Mụ già đáp:
-Đừng có coi thường tụi ma trơi! Ta thả chúng ra rồi đấy. Ta còn phải nói với nhau rất nhiều về chúng đấy. Nhưng ngươi hãy đi với ta, ta cần phải về đầm lầy bây giờ. Về đến đấy ta sẽ nói tất. Nhanh, nhanh lên một tí, kẻo bảy nhánh lá chẽ ba héo đi và trăng lặn mất.
Nói rồi, mụ phù thuỷ biến đi.
Chuông nhà thờ điểm mười hai tiếng. Trước tiếng chuông thứ tư ông bạn của chúng ta đã ra khỏi sân, qua vườn và đi tới đồng cỏ. Sương mù đã tan vì mụ phù thuỷ đã ngừng nấu rượu. Mụ bảo:
-Người đi lâu thật. Thế mới biết, phù thuỷ đi nhanh hơn người thường.
-Mụ định nói gì với ta? Có định nói về Truyện không đấy?
-Thế ngươi không còn điều gì khác để hỏi ta hay sao?
-Thế mụ hãy nói về tương lai của thơ ca cho ta nghe xem nào!
-Chớ có vội cáu, ta sẽ trả lời. Người chỉ chăm chăm hỏi ta về Thơ và Truyện. Đúng! Ta biết nhiều về văn thơ. Hồi còn trẻ ta đã là một thần tí hon xinh đẹp, thường vẫn nhảy với các thần tí hon khác dưới ánh trăng. Bọn chúng ta thường nghe hoạ mi hót và dạo chơi trong rừng. Khi thì Truyện ngồi suốt đêm trong một bông hoa ngoài đồng cỏ, lúc thì Truyện lách vào nhà thờ, chui vào những bông hoa bày trên bàn thờ.
-Mụ biết tường tận nhỉ?
-Về điểm gì chứ về điểm ấy ta chẳng kém ngươi…Truyện và Thơ cũng cùng một mẹ đẻ ra cả. Đặt chúng vào chỗ nào mà chẳng được. Mà là ra chúng chẳng tốn là mấy. Ta sẽ cho không ngươi một ít. Đây là một chiếc rương đầy thơ đóng thành chai. Nước cất, loại tinh tuý nhất của thơ đấy, dịu ngọt cũng có, cay đắng cũng có. Trong các chai của ta có đủ những gì mà con người đòi hỏi ở thơ ca, chỉ cần mỗi chủ nhật rẩy một tí vào khăn mùi soa là đủ.
Ông bạn chúng ta nói:
-Ta rất đỗi ngạc nhiên. Mụ có thơ đóng vào chai thật ư?
-Có quá đi chứ. Ngươi còn lạ gì truyện con bé giẫm lên bánh mì mà đi để giày khỏi bẩn? Truyện ấy đã được viết và xuất bản.
-Chính ta kể truyện ấy chứ ai.
-À, hẳn là ngươi đã biết rằng con bé ấy đến nhà ta đúng vào hôm bà nội Quỷ sứ đến thăm ta. Mụ ấy thấy con bé, bèn xin ta mang về làm kỷ niệm buổi viếng thăm ấy. Ta đã cho mụ con bé và mụ đã biếu lại một vật chẳng có ích lợi gì cho ta. Một chiếc rương lớn, đựng đầy thơ đóng chai. Mụ đã khuyên ta nên để chúng vào chỗ nào. Vẫn còn đủ cả đấy. Ngươi vào mà xem. Ngươi có bảy nhánh chẽ ba, trong đó một nhánh có sáu lá, nhờ có chúng ngươi mới có thể nhìn thấy những chai ấy.
Quả nhiên ông bạn của chúng ta trông thấy chiếc rương của bà thằng Quỷ sứ ở giữa đầm lầy. Mụ phù thuỷ và tất cả những người biết nơi để rương, bất kể người đó ở thời đại nào và thuộc dân tộc nào, đều có thể mở rương ấy ra. Có thể mở cả mặt trước, mặt sau, và tứ phía. Đây là một cái rương rất quý, những nhà thơ của các nước, đặc biệt là của nước ta, được giới thiệu trong đó, sáng tác của họ đã được tinh chế, sửa chữa, cô đặc lại và đóng vào chai. Với một tài năng vững vàng, nếu không gọi là thiên tài, bà nội thằng Quỷ sứ đã thu góp từ trong thiên nhiên tất cả những cái gì hợp với phong cách của một thi sĩ, rồi pha vào đó một ít tính chất của ma quỷ, thế là được chất thơ của tất cả các thi sĩ đóng vào chai để dùng mãi mãi về sau.
Ông bạn của chúng ta yêu cầu:
-Cho ta xem nào!
-Được, nhưng nghe thì hay hơn nhiều.
-Xem qua tí đã. Thật là đủ các cỡ chai. Chai này đựng gì? Chai kia đựng gì?
Mụ phù thuỷ đáp:
-Trong chai này có chất hương tháng năm. Ta chưa thử, nhưng ta biết rằng nếu ai rỏ một giọt xuống đất liền thấy ngay một cái ao rất đẹp, có đồng cỏ đầy hoa khê tôn ngũ sắc và thạch thảo bao quanh. Nếu ai rỏ hai giọt lên quyển vở một câu học sinh bình thường, quyển vở sẽ biến ngay thành một vở hý kịch thơm nức đến nỗi chỉ ngửi thôi cũng đã ngủ lịm đi rồi. Thật là vinh dự cho ta vì ta được họ nêu danh vào nhãn hiệu của chai đó: “Nước giải khát của bà phù thuỷ đầm lầy.” Ngươi có thấy không?
“Còn đây là chai chứa những chuyện vô sỉ. Nom tựa như nước nguyên chất trong vắt, có phải không? Đúng đấy, nhưng có pha ba thìa chất dối trá và hai giọt chất sự thật, lại gia thêm một tí máu dân chài và một tí thịt thày giáo.”
“Rồi đây là những chai thơ luân lý. Mỗi giọt rơi xuống vang lên như tiếng cửa mở dưới địa ngục.
Cái chai to tướng ở phía kia kìa, chiếm đến nửa rương, là chai quý nhất đựng tất cả các truyện cổ kim. Chai ấy được đậy nút kỹ để nước bên trong khỏi bị hả hơi. Tất cả các món ăn quốc hồn quốc tuý của các dân tộc đều có trong đó. Chỉ cần dốc ngược chai và xúc lên là người Đức sẽ thấy trong ấy món nước sốt triết học của mình, người Anh: món nước dùng nấu với khoa sư phạm của họ, và người Pháp: món canh hổ lốn của họ , mà người Đan Mạch chúng ta vẫn thường gọi là món cháo vịt. Nhưng theo ta, ngon nhất vẫn là món xúp của kinh thành Côpenhagơ.
Ông bạn của chúng ta mải mê suy nghĩ. Mụ phù thuỷ đầm lầy nói tiếp:
-Ngươi đã xem và biết rương của ta đựng gì rồi. Nhưng ta muốn báo cho ngươi một tin quan trọng hơn thế nhiều, mà ngươi chưa hề biết: “Trong thành có ma trơi”. Việc này quan trọng hơn Thơ và Truyện. Đáng nhẽ ta không nói thêm gì nữa, nhưng có một sức mạnh thần bí thúc đẩy ta phải loan báo: “Trong thành có ma trơi! Chúng được thả ra rồi đấy. Loài người hãy coi chừng.”
-Sao nữa? Ta chẳng hiểu gì cả.
Mụ phù thủy tiếp:
-Hãy ngồi lên chốc rương một lát, nhưng chớ có làm bẹp rương, vỡ chai của ta đấy! Hẳn là ngươi đã biết giá trị của những thứ trong ấy! Ta sẽ kể cho ngươi nghe cái tin trọng đại vừa mới xảy ra hôm qua.
Trong đầm lầy này, hôm qua, có hội lớn. Người thử tưởng tượng xem có mười hai con ma trơi ra đời. Chúng thuộc vào loại có thể biến hình thành người, hành động và liên kết với nhau như người thật vậy. Đó là một sự kiện lớn lao trong đầm lầy, nên ma trơi đực và ma trơi cái nhảy múa cả ngày đến hết cả hơi. Nhưng đây không phải là chuyện chính.
“Khi ấy, ta cũng ngồi trên chiếc rương như ngươi bây giờ, đang ẵm mười hai đứa ma trơi mới nở, chúng lập lòe như đom đóm. Trong nháy mắt chúng đã lớn hẳn lên và bắt đầu nhảy múa. Chưa đầy mười lăm phút sau chúng đã to bằng người lớn rồi.
Giờ ta phải cho ngươi biết rằng, theo lệ trong giang sơn ta, những đứa ma trơi nào sinh ra trong ngày trăng tròn và có gió to, như hôm qua, đều được phép biến thành người và sống như người thật trong suốt một năm. Chúng có thể bay quanh thế giới, nếu chúng không sợ rơi xuống biển hay bị bão táp vùi dập. Ma trơi còn nhập được vào linh hồn con người, bắt người ta phải nói và hành động theo ý chúng. Hơn nữa, chúng có quyền nhập vào cả đàn ông lẫn đàn bà, nhưng trong một năm chúng phải làm hư hỏng cho được ba trăm sáu mươi lăm người, làm cho họ xa hẳn chân lý và đạo đức. Con nào thành công sẽ được nhận phần thưởng cao quý nhất của loài ma trơi, được chạy trước xe của quỷ sứ, được một bộ quần áo lính hầu bằng vàng và một vòng lửa đeo cổ.
Nhưng trong khi đi tìm người để nhập vào, ma trơi gặp rất nhiều nỗi gian nguy. Nếu người trông thấy nó trước và thổi vào nó thì ma trơi lại rơi trở lại đầm lầy. Hơn nữa, trước cuối năm, nếu ma trơi nhớ nhà quá, không làm tròn nhiệm vụ thì nó không lập lòe được nữa và tắt ngấm hẳn đi. Nếu hết năm mà nó không làm cho đủ ba trăm sáu mươi lăm người xa lìa chân lý và đạo đức thì nó sẽ bị giam hãm trong một mẩu gỗ mục. Nó vẫn còn sáng, nhưng không cựa quậy được nữa, đó là hình phạt kinh khủng nhất đối với một con ma trơi.
Ta biết hết những điều đó và đã kể lại cho mười hai đứa ma trơi mới ra đời lúc ta ẵm chúng trên tay.
Chúng sướng điên lên.Ta bảo chúng: “Hãy coi chừng, tốt hơn hết là đừng nên làm người!”
Nhưng không! Chúng thích làm người cơ! Chúng đã mơ tưởng đến cái thú mặc quần áo vàng và đeo vòng lửa rồi. Một số ma trơi kỳ cựu bảo chúng: “Ở lại đây với chúng ta!” Một số khác lại nói: “Cứ đi mà hại lũ người. Chúng chẳng đã tát và vét cạn đầm lầy của ta đó sao? Rồi số phận con cháu chúng ta sẽ thế nào đây?”
-Không tha đứa nào cả!-Lũ ma trơi reo lên.
Thế là chúng quyết định ra đi.
Ông bạn của chúng ta nói:
-Thế là thành một truyện rồi.
Mụ phù thủy đáp:
-Đấy mới chỉ là đoạn đầu thôi.
Bây giờ mụ có thể kể cho ta biết những hành động của chúng. Chúng chọn những người nào và lừa dối họ bằng cách nào? Theo ý ta có thể viết cả một cuốn tiểu thuyết về ma trơi, gồm mười hai chương, mỗi chương kể chuyện một con ma trơi, hoặc hơn nữa, có thể viết thành một hý kịch dân gian.
-Thế thì viết đi! Hay thôi, đừng viết thì hơn.
-Phải, ta cũng thấy đừng viết có lẽ hơn. Ta sẽ tránh được những lời chỉ trích của báo chí. Khó chịu chẳng kém gì ma trơi bị giam vào gỗ mục, chỉ có thể lập lòe mà không nói năng cử động được.
Mụ phù thuỷ nói:
-Đúng đấy! Cứ để cho những người khác viết, những người biết chuyện và những người chẳng biết gì. Ta sẽ cho nhà người một chai thơ ca. Ta thấy hình như ngón tay ngươi đã khá nhem nhuốc những mực rồi đấy và ngươi cũng đã đến tuổi làm những việc lớn hơn là viết truyện. Ngươi đã nghe rõ truyện ta vừa kể chưa?
-Trong thành có ma trơi, phải, ta đã nghe thấy rồi. Nhưng ngươi muốn ta làm gì bây giờ? Đi tìm khắp phố phường, nhà cửa, đến ông thị trưởng hay ôn chưởng lý xem lũ ma trơi chui vào đầu óc người nào chăng? Theo lời ngươi, nhờ phép lạ của những nhánh chẽ ba có bốn lá, ta có thể dễ dàng nhận ra chúng. Đến lúc tìm ra những con ma trơi ấy thì ta sẽ báo cho ai mới được kia chứ? Ta không thể nào nói ra với những kẻ mà ma trơi đã nhập vào và nếu ta công khai nói lên điều ấy thì thiên hạ sẽ nhạo báng và phản đối ta. Mụ cứ tưởng tượng xem ta đang kêu lên: “Cẩn thận đấy, có một con ma trơi đang đội lốt một người lương thiện kia kìa!” thì sẽ ra sao? Dù sao ta cũng rất muốn viết lại truyện này.
Mụ phù thuỷ nói:
-Hơn nữa, chúng tản ra khắp nơi. Chúng lẻn vào nhà thờ làm cho cha cố lúc ấy cũng chẳng nghĩ gì đến quyền lợi của giáo dân nữa, mà chỉ nghĩ đến bản thân mình thôi. Chúng xâm nhập vào các tác giả và các nghệ sĩ…Nhưng thôi, ta đã quá ba hoa, có lẽ hại cho họ hàng ta quá lắm rồi. Thế là ta sắp cứu loài người mất rồi! Điều đó trái với ý ta, và ta cũng chẳng hy vọng gì kiếm được tấm huy chương. Rõ thật điên! Đem kể cả truyện ấy với một nhà văn để ông ta kể lại cho cả thành phố biết!
Ông bạn của chúng ta nói:
-Nhân dân thành phố chẳng thèm để ý đến đâu! Họ sẽ tưởng rằng đó là một truyện hoang đường mà ta kể cho họ, mặc dù ta có hết sức nghiêm chỉnh báo cho họ rằng: “Trong thành có ma trơi đấy, mụ phù thuỷ đầm lầy bảo tôi thế, các bạn coi chừng!”

Thiên tinh

****
Giữa một khu vườn có một cây hồng nở đầy hoa. Trong một bông hoa đẹp nhất có một chú thiên tinh. Chú xinh xắn, bé nhỏ đến nỗi mắt người ta không thấy được. Tuy thế, người chú cân đối, đẹp và đáng yêu như tình yêu đẹp đẽ nhất của trẻ thơ và thêm nữa, chú có đôi cánh mọc từ vai xuống chấm gót. Cái lâu đài chú ở mới đẹp làm sao! Sau mỗi cánh hoa như xa tanh trong suốt, màu sắc dịu dàng và hương thơm toả trong những căn buồng ấy dễ chịu biết bao!
Suốt ngày thiên tinh vùng vẫy vui vẻ dưới nắng ấm. Chú bay lượn, từ đoá hoa này sang đoá hoa khác, rồi nằm rung rinh trên cánh cậu bướm đang nhảy múa trong không trung. Một hôm, chú chơi nghịch, đo xem phải bao nhiêu bước mới đi hết được tất cả các đường ngõ rắc rối do gân của lá bồ đề tạo thành. Con đường thật là dài. Chú bay nhanh như thế nào thì đôi chân lũn cũn của chú bước chậm từng ấy. Mặt trời đã lặn mà chú chưa đi hết những con đường quanh co rắc rối ấy.
Sương xuống, gió bất chợt nổi lên, thổi mát rượi. Thiên tinh phải về nhà gấp. Chú ráng hết sức bay vội về. Về đến cây hoa hồng, chú thấy nhà đã đóng cửa. Không riêng gì nhà chú mà tất cả hoa hồng ở đấy đều đã khép kín cánh hoa lại rồi.
Chú thiên tinh đáng thương sợ quá, vì chú chưa bao giờ ngủ ngoài trời cả. Chú vẫn được nằm êm ái trong những cánh hoa ấm áp. Chú tự nhủ: “Ôi, đêm nay ta đến chết mất!”
Chú nhớ rằng đầu vườn đằng kia có một vòm hoa tử lan đẹp như cánh bướm. Chú nghĩ thầm: “Ta ra nép vào một trong những đoá hoa đó, may ra sẽ được ngủ một giấc ngon.” Thiên tinh bay đến đấy. Suỵt! Có hai người đang ngồi dưới vòm hoa, anh một chàng thanh niên đẹp trai và một thiếu nữ kiều diễm. Họ ngồi cạnh nhau, đang từ biệt nhau. Họ yêu nhau quá nên không muốn rời nhau ra.
Chàng trai trẻ nói:
-Dù sao chúng ta cũng phải xa nhau. Anh trai em rất ghét chúng ta. Hắn bắt anh mang một lá thư đến nơi rất xa đây, tận bên kia núi rừng và sông hồ, anh phải tuân theo lời hắn. Thôi vĩnh biệt em yêu quý, dù thế nào đi nữa em cũng là vợ chưa cưới của anh.
Họ hôn nhau. Người thiếu nữ khóc, nàng tặng anh một đoá hoa hồng. Trước khi trao cho anh nàng đặt lên đó môt chiếc hôn nồng nhiệt và âu yếm đến nỗi cánh hoa phải xòe ra. Chú thiên tinh vội lách vào và tựa đầu bên cánh hoa mềm mại thơm tho. Từ bên trong, chú nghe thấy họ từ biệt nhau, từ biệt nhau mãi.
Bông hoa hồng được cài vào ngực ngay sát tim chàng trai trẻ. Chà! Tim chàng đập sao mạnh thế! Chú thiên tinh không thể ngủ được vì con tim ấy thổn thức, làm chứ bị lắc tợn quá.
Chàng trai trẻ đi đến một khu rừng âm u vắng vẻ. Chàng dừng lại, rút đoá hoa hồng ở ngực ra hôn. Chàng hồn nhiên và say sưa đến nỗi gần đè bẹp chú thiên tinh. Qua những cánh hoa nhàu nát chú cảm thấy đôi môi của chàng nóng ran! Hoa hồng được những chiếc hôn ấy xòe rộng cánh ra như dưới ánh nắng ban trưa.
Bỗng một người, một tên gian ác, một tên hung đồ ghê gớm xuất hiện: đó là anh trai nàng thiếu nữ xinh đẹp. Nó rón rén đi theo chàng trai trẻ. Trong lúc chàng trai đáng thương mải mê hôn đóa hoa hồng, nó tiến đến sau chàng, rút dao đâm vị hôn phu của em gái nó một nhát chết tươi. Để cho chắc chắn hơn, nó bồi thêm một nhát nữa đứt phăng đầu chàng ra. Rồi nó vùi cả đầu lẫn thân xuống dưới gốc cây bồ đề lớn. Tên khốn kiếp tự nhủ: “Thế là nó đã đi đứt! Nó sẽ làm một cuộc hành trình lâu dài sang bên kia núi rừng. Khi không thấy nó trở về, người ta sẽ tưởng là nó đã chết dọc đường. Còn em gái ta sẽ không bao giờ dám nhắc đến tên nó trước mặt ta.” Nó lấy chân gạt lá khô lên trên cái hố đã đào rồi quay trở về nhà. Nhưng không phải chỉ có mình nó như nó tưởng. Thiên tinh đã đi theo nó. Chú núp trong một chiếc lá bồ đề khô cuộn tròn rơi vướng vào tóc trên sát nhân khi tên này cúi xuống đào huyệt chàng trai trẻ. Tên này đã đội mũ trùm lên trên chiếc lá. Dưới cái mũ này sao mà tối thế! Chú thiên tinh run lên, vừa sợ hãi vừa tức giận vì đã không ngăn được vụ giết người ghê rợn ấy.
Về đến nhà lúc trời vừa sáng, tên sát nhân cất mũ, rồi vào buồng nơi cô em gái đang ngủ. Cô bé xinh đẹp đang nằm, tuổi xuân mơn mởn. Nàng đang mơ thấy người mà nàng đã gửi gắm trái tim, nàng thấy chàng đã trở về, sau cuộc hành trình dài qua bao núi rừng và sông hồ.
Thằng anh độc địa của nàng cúi xuống nhìn nàng mỉm cười quái ác. Chiếc lá khô rơi từ tóc nó xuống giường mà nó cũng không hay. Nó đi ngủ một lát để nghỉ ngơi sau cái đêm đầy tội ác ấy.
Thiên tinh từ chỗ trốn chui ra và luồn vào tai người thiếu nữ. Chú kể lại cho nàng nghe, như báo mộng, vụ án mạng khủng khiếp. Chú tả lại cho nàng biết chỗ anh nàng đã giết và đã vùi xác người yêu nàng. Chú tả lại cây bồ đề to nở hoa cạnh đấy và nói thêm: “Để cho cô thấy rằng việc tôi nói không phải là một giấc mơ thường, cô sẽ thấy ở trên giường có một chiếc lá bồ đề khô”. Quả nhiên khi tỉnh dậy cô gái đã nhìn thấy chiếc lá. Cô đã tuôn biết bao nhiêu giọt lệ sầu thảm!
Cửa sổ phòng nàng để ngỏ suốt ngày nên chú thiên tinh có thể bay ra vườn một cách dễ dàng và lại chui vào những đoá hồng thân yêu, nhưng chú không đành tâm để mặc cô gái đáng thương nức nở một mình. Trên cửa sổ có một gốc hồng, thứ hồng tháng năm. Chú nép mình trong một bông hoa và nhìn cô gái. Ngày hôm ấy thằng anh có đến nhiều lần, vui vẻ, nhơn nhơn, mặc dầu nó đã làm một việc đại ác. Cô gái không dám hé một lời về nỗi buồn của mình.
Đêm đến, nàng lẻn ra ngoài đi vào rừng đến tận gốc cây mà nàng đã biết rõ. Nàng trông thấy đống lá khô, gạt ra, đào chỗ đất mới và tìm thấy đầu lâu cùng thi hài của người yêu. Nàng đứng đấy rất lâu, gục đầu đau khổ, nức nở cầu thượng đến ban ơn cho nàng sớm được chết theo.
Nàng nhấc cái đầu nhợt nhạt, mắt nhắm nghiền, nàng hôn vào đôi môi lạnh ngắt, gõ đất bám trên mớ tóc xoăn và tự nhủ: “Ta sẽ mang nó về và giữ lấy nó.” Sau khi lấp đất và phủ lá lên thi hài như cũ, nàng ra đi đem theo cái đầu và một cành hoa nhài dại mọc dưới gốc bồ đề.
Về tới buồng mình, nàng lấy một chậu hoa rất to, đặt cái đầu vào, lấp đất và trồng lên đó cành hoa nhài.
Chú thiên tinh không thể chịu đựng được cảnh thương tâm đó. Chú bay về cây hồng cũ nay đã tàn gần hết hoa, chỉ còn vài bông gần héo. Chú thở dài nói: “Trên đời này cái gì tốt đẹp thường chóng qua đi!” Cuối cùng, chú tìm được một cây hồng đang nở hoa và tối nào cũng về đấy nhẹ nhàng ngả lưng giữa những cánh hoa thơm tho, dịu dàng.
Đến sáng, chú bay về phía cửa sổ buồng cô gái đáng thương. Nàng vẫn luôn luôn bên chậu hoa bên trong đựng cái mà chỉ có chú thiên tinh biết rõ. Nàng khóc, nước mắt rơi xuống cánh hoa nhài và càng ngày mặt cô gái xấu số càng xanh nhợt đi bao nhiêu thì cây hoa nhỏ càng đâm chồi nảy lộc xanh tươi bấy nhiêu. Rồi cô gái âu yếm hôn vào những nụ hoa mới trổ. Thằng anh độc ác đến mắng nàng, hắn bào nàng là điên rồ, chỉ rên rỉ suốt ngày, không chịu ra khỏi phòng. Một hôm ủ rũ bên chậu hoa nàng thiếp đi, đầu gục trên cây hoa nhài. Chú thiên tinh bé nhỏ bay đến luồn vào tai nàng, nhắc lại cái tối ái ân ngồi dưới vòm hoa và kể cho nàng nghe về tình yêu của các thiên tinh. Nàng mơ một giấc mộng tuyệt đẹp. Giữa lúc đang ngây ngất, linh hồn nàng nhẹ nhàng bay lên thiên đường. Trên ấy, nàng lại tìm thấy người yêu. Cây nhài nở đầy những bông hoa trông như những chiếc chuông con trắng muốt, toả một mùi thơm ngào ngạt. Đó là hương thơm của cây hoa viếng người con gái đã quá cố.
Thằng anh trai độc ác đã trở lại và không mảy may thương xót cái chết của em gái nó. Nó đem cây hoa kỳ diệu đặt bên giường nó, hương thơm ngào ngạt khắp căn phòng.
Chú thiên tinh bay theo, chú bay từ hoa này sang hoa khác và trong mỗi bông chú tìm thấy một cô bạn nhỏ, chú kể lại cái chết thảm thương của chàng trai trẻ, chuyện thằng anh độc ác và cô em gái đáng thương cho các bạn nghe. Chúng đều trả lời: “Chúng tôi đã biết cả, vì phải chăng chính thịt chàng đã biến thành đất nuôi sống chúng tôi? Chúng tôi biết cả rồi.” Và chúng rung những chuông nhỏ của chúng, rồi im lặng. Chú thiên tinh cũng không thể tưởng tượng được rằng các bạn mình cảm động đến thế. Chú đi tìm đàn ong đang hút nhị hoa và kể lại vụ án mạng. Ong về tâu với chúa. Chúa ong ra lệnh cho cả đàn ngày mai đi giết tên sát nhân.
Nhưng đêm ấy, trong khi thằng anh đang ngủ cạnh cây nhài đầy hoa, tất cả các cánh hoa nở tung, và hồn hoa bay ra, vô hình, mang theo kim thuốc độc. Chúng chui vào tai tên hung đồ, nhắc lại tội giết người của nó. Chúng luồn vào lỗ mũi nó, bay trên môi nó và trong lúc nó nói mê sảng, chúng châm kim thuốc độc vào lưỡi nó. Sau đó chúng lại quay về núp trong những chiếc chuông trắng của chúng. Chúng nói: “Thế là chúng ta đã báo thù được cho người bị giết oan.”
Sáng hôm sau, cửa sổ vừa mở, chú thiên tinh cùng chúa ong và cả đàn ập vào để giết tên sát nhân. Hắn đã chết rồi, có nhiều người xúm quanh giường hắn nói rằng:
-Mùi hoa nhài đã làm cho hắn chết.
Thiên tinh chợt hiểu ngay là hồn hoa bé nhỏ và dũng cảm đã làm việc ấy, chú giảng giải cho chúa ong biết. Chúa ong và cả đàn vội xúm lại khen ngợi các bông hoa nhài. Chúng vo ve xung quanh cây hoa, người ta không thể nào xua được chúng nó đi. Một người cầm lấy chậu hoa để mang đi, một con ong đốt mạnh vào tay đến nỗi bác ta làm rơi vỡ chậu hoa. Người ta thất lòi ra cái sọ của chàng trai trẻ và do đó người ta khám phá ra đứa nằm chết trê giường kia là một tên sát nhân. Rồi ong chúa bay vút lên trên không đi khắp chốn ca ngợi sự báo oán của các bông hoa và câu chuyện chú thiên tinh núp sau một chiếc lá khô bé nhỏ đã tố cáo được vụ án mạng và trừng trị tên sát nhân.

Thiên đường

****
Ngày xưa có một ông hoàng tử có nhiều sách quý nhất trần gian. Tất cả các sự kiện trên đời đều được ghi vào đó bằng lời văn và tranh ảnh. Lịch sử các dân tộc được kể lại rất chi tiết, nhưng không có cuốn sách nào nói đến Thiên đường. Chính Thiên đường lại là nơi mà Hoàng tử luôn mơ tưởng đến.
Khi hoàng tử còn nhỏ tí, Hoàng thái hậu thường kể rằng ở trên ấy, mỗi bông hoa là một cái bánh ngọt và trong đài hoa chứa một loại rượu vang hảo hạng. Trên mỗi bông lại có một vài sử ký, hoặc một bài địa lý, hoặc một bản cửu chương. Người ta chỉ cần ăn hoa là sẽ thuộc bài, và càng ăn nhiều lại càng biết nhiều về sử ký và địa lý.
Hồi còn nhỏ, hoàng tử rất tin chuyện ấy. Nhưng lớn lên, trí tuệ được mở mang, hoàng tử cảm thấy Thiên đường phải chứa đựng nhiều cái thú vị hơn thế. Chàng tự hỏi:
- Tại sao bà Eva lại đi hái quả táo ở cây trí tuệ làm gì nhỉ? Và tại sao Adam lại ăn quách quả táo ấy nhỉ?
Và cứ thế, tất cả tâm trí chàng hướng về Thiên đường.
Một hôm, chàng đi dạo một mình trong rừng; đó cũng là cách giải trí mà chàng ưa thích nhất. Chiều đến, mây kéo ùa tới mà mưa xuống như thác đổ. Đêm tối như mực, hoàng tử hết dẫm phải đá lại trượt chân trên cỏ ướt. Mưa thấm ướt quần áo chàng. Bỗng chàng nghe thấy tiếng nổ lép bép kì lạ và thấy mình đang ở trước một cái hang sáng rực. Giữa hang một đống lửa lớn đang cháy, trên đó người ta đang quay một con nai, có sắt xuyên qua, hai đầu xiên đặt trên hai cành cây.
Một bà cụ to lớn và cứng cáp như đàn ông, đang ngồi quẳng từng bó cành cây vào đống lửa. Bà lão nói với Hoàng tử:
- Lại đây mà hơ quần áo!
- Ở đây gió lùa rợn cả người!- Hoàng tử vừa đáp vừa ngồi xuống đất.
- Lát nữa các con già về, còn lộng hơn thế này kia, bà lão đáp. Đây là hang gió và các con già là gió bốn phương, hoàng tử hiểu không?
- Hiểu, nhưng họ đi đâu cả thế, hở cụ?
- Hỏi vớ vẩn! Chúng nó sống tự do và muốn đi đâu thì đi, chẳng cần xin phép già. Chúng đang chơi đá bóng với các đám mây ngoài trời kia kìa! (Vừa nói bà vừa nhìn lên trời) Chàng phải biết là lũ con già cứng đầu cứng cổ lắm nhá! Chàng có trông thấy bốn cái bao treo trên tường kia không? Lũ con già nhìn thấy mấy cái bao ấy cứ gọi là run lên như trẻ con nhìn thấy roi ấy. Già cứ nhét chúng vào bao là chứng nào tật nấy phải chừa tuốt. Đây này, một đứa về đấy.
Đó là Gió Bấc. Hắn mang về một luồng gió lạnh buốt. Hắn rải trên đất những hạt mưa đá và bông tuyết. Hắn mặc một chiếc quần chẽn và một chiếc áo choàng bằng da gấu, đội một chiếc mũ bịt cả tai bằng da hải cẩu. Từng mảnh băng dài bám lủng lẳng vào râu hắn.
- Chớ có vào gần lửa- Hoàng tử nói- Nứt nẻ chân tay ra đấy!
Gió cười:
- Nứt nẻ! Đối với tôi nứt nẻ da là khoái nhất! Nhưng này, cậu bé là ai thế nhỉ? Sao cậu lại vào được cái hang này?
- Khách của mẹ đấy- Bà lão nói- Nếu con còn thắc mắc hãy chui vào bao một lát sẽ rõ. Hiểu chưa?
Thế là đủ rồi. Gió vội vàng kể chuyện gió vừa ở đầu về và tháng trước gió đã làm gì.
- Con vừa ở bể băng về. Con đã ở trên đảo Gấu với một đoàn người Nga đi săn hải báo.
Bà lão nói:
- Con hãy tả tỉ mỉ hơn một chút! Thế là con ở đảo Gấu về đấy ư?
- Vâng, và đảo Gấu quả thật là đẹp. Giá mà khiêu vũ trên đảo ấy thì thật là tuyệt. Nhẵn và bóng như gương ấy, chỉ trông thấy một chút rêu nổi rải rác trên mặt tuyết. Nhưng chẳng bao giờ thấy ánh mặt trời cả, hình như mặt trời không chiếu tới nơi ấy thì phải. Trên đảo có một ngôi nhà làm bằng mảnh tàu vỡ, sơn màu đỏ và xanh lá cây, trên mái nhà có một con gấu trắng đang gầm gừ. Gần bờ biển, đàn hải cẩu đang trườn trên băng giá, đầu như đầu lợn và răng thì dài đến hơn một mét… À, anh Gió Tây đã về kia rồi! Con thích anh ấy nhất, anh ấy mang theo gió bể về đây, hơi lạnh, nhưng dễ chịu.
- Có phải là Gió May không?- Hoàng tử hỏi.
- Phải- Bà mẹ đáp- Nhưng nó cũng chẳng dễ chịu lắm đâu! Trước kia nó là một đứa bé xinh xắn, nhưng nay đã thay đổi nhiều.
Thật vậy, trông gió như một người rừng, cầm trong tay một cây truỳ bằng gỗ đào hoa tâm chặt ở một khu rừng bên châu Mỹ.
- Con ở đâu về?- Bà mẹ hỏi.
- Ở những khu hoang vu đầy sư tử và rắn rết, nơi mà loài người không sinh sống được.
- Con làm gì ở đấy?
- Con rong ruổi trên thảo nguyên, và có lúc lồng lộn lên, làm lắc lư những đám cây dừa và làm cho lũ ngựa rừng hoảng sợ. Nhiều chuyện lắm, kể không hết được. Cũng không nến nói tất cả những chuyện mình biết, phải không mẹ?
Gió ôm bà lão mà hôn, thô bạo đến nỗi suýt nữa bà lão ngã lăn kềnh.
Gió nam cũng vừa về tới nơi, mình khoác áo choàng kiểu Ả Rập, đầu chít khăn.
- Chà! Ở đây rét khiếp! (Gió vừa nói vừa quẳng thêm củi vào đống lửa). Đúng là gió Bấc về rồi.
Gió bấc nói:
- Dào! Nóng đến nỗi có thể quay cả một con gấu trắng ấy chứ!
- Này, ngu như gấu ấy!- Gió Nam gắt.
- Liệu có cần cho chúng mày vào bao không?- Bà lão nói. Gió Nam hãy ngồi xuống và kể cho mẹ nghe con ở đâu về.
- Ở Châu Phi về đấy mẹ ạ. Con đã gặp một đoàn người băng qua sa mạc, phải giết con lạc đà cuối cùng để lấy nước uống. Nhưng dạ dày lạc đà ít nước quá. Mặt trời như thiêu như đốt, cát nóng bỏng. Con bốc cát lên, cuộn thành một cơn lốc, thành những cột cát khổng lồ. Giờ đây cả đoàn đã bị chôn vùi dưới cát rồi. Trên xác họ, cát đã chất thành núi. Nếu lần sau qua nơi ấy, con sẽ thổi vào đống cát, xương cốt sẽ lộ thiên, mặt trời sẽ làm trắng xương ra và ai qua đó sẽ thấy rằng trước họ đã có người bỏ xác ở đó.
- Thế là mày toàn làm những điều ác, bà mẹ nói, chui ngay vào trong bao!
Và hắn chưa kịp chống cự thì và đã ôm chặt lấy hắn, tống cổ vào bao. Hắn lồng lộn ở trong bao. Nhưng bà lão ngồi lên bao làm hắn phải nằm yên. Hoàng tử nói:
- Các ông con của bà thật là đáo để!
- Đúng thế, bà lão đáp, nhưng chàng thấy tôi cũng chẳng phải tay vừa đấy chứ? À, thằng thứ tư về đây rồi!
Đó là gió Đông, mặc quần áo kiểu Trung Quốc.
- Ơ kìa! Con ở Trung Quốc về đấy ư? -Bà mẹ hỏi- Mẹ cứ tưởng con lên Thiên đường.
- Không, mai con mới lên trên ấy, Gió Đông nói. Thế là vừa đúng một trăm năm con mới trở lên trên ấy. Con ở Trung Quốc về, ở đấy con đã lắc chuông trên lầu Hoàng cung.
Bà mẹ nói:
- Toàn chuyện tếu cả. Mai con lên Thiên đường có lẽ bổ ích hơn. Lên đấy, nhớ lấy cho mẹ vài chai nước ở suối Chân lý.
- Con sẽ nhớ, Gió Đông nói. Nhưng sao mẹ lại nhét anh gió Nam vào bao thế? Cho anh ấy ra ngoài đi để anh ấy kể chuyện về Phượng hoàng cho con nghe.Vì cứ trăm năm một lần, khi con lên thăm, lần nào nàng công chúa trên ấy cũng hỏi thăm tin tức của Phượng hoàng. Thôi đi mẹ, mở bao thả anh ấy ra. Con mang về cho mẹ một ít chè tươi, tự tay con hái đấy.
- Chỉ vì nể con,c on cưng của mẹ, và cũng vì con đã hái chè mang về biếu mẹ, nên mẹ cũng vui lòng tha cho anh con.
Bao vừa mở ra. Gió Nam liền chui ra. Hắn ta xấu hổ, hẳn vì có hoàng tử ngồi đấy. Hắn nói:
- Đây là một tàu lá cọ để em đưa cho công chúa. Chính phượng hoàng con đã trao cho anh. Phượng hoàng bố đã viết lại chuyện mình trong một trăm năm qua, đã tự tay đốt tổ mình. Nằm giữa khói lửa, Phượng hoàng vẫn điềm nhiên lấy mỏ viết vào lá cọ, tự thiêu sống như phụ nữ Ấn Độ tuẫn táng chết theo chồng. Cuối cùng, Phượng hoàng chỉ còn lại một quả trứng màu đỏ. Trứng nổ, Phượng hoàng non chui ra. Giờ đây phượng hoàng con là vua các loài chim.
Bà mẹ nói:
- Đến giờ ăn rồi.
Tất cả ngồi lại ăn thịt nai quay. Hoàng tử ngồi bên Gió Đông và chẳng bao lâu đã trở thành đôi bạn thân. Hoàng tử bắt đầu câu chuyện:
- Gió hãy cho tôi biết về nàng công chúa và cái thiên đường các anh vừa nói tới.
- Thế à! Nếu hoàng tử muốn lên đấy thì mai đi với tôi. Nhưng tôi cần phải nói trước cho hoàng tử biết là từ thưở Adam và Eva đến nay chưa có một người nào vào đến nơi đó. Chắc hoàng tử đọc kinh thánh, cũng biết chuyện ấy chứ?
- Tất nhiên, Hoàng tử đáp.
- Khi Adam và Eva bị đuổi, Thiên đường lún xuống đất, nhưng khu vườn nơi đó vẫn còn giữ được ánh nắng, không khí ấm áp và cảnh tượng huy hoàng, ở đấy có một hòn đảo và là nơi ở của nàng tiên Hạnh phúc. Đời sống ở đấy thật là sung sướng. Ngày mai hoàng tử cưỡi lên lưng tôi, tôi sẽ đưa đi.
Sáng sớm, hoàng tử tỉnh giấc và ngạc nhiên thấy mình đang ở trên mây. Chàng ngồi vững chắc trên lưng Gió Đông. Rừng núi, đồng cỏ, sông ngòi và biển cả, hiện ra dưới mắt chàng như một bản đồ đủ màu sắc.
Gió Đông nói:
- Ngủ một giấc ngon lành đấy chứ, thưa hoàng tử? Hoàng tử có thể ngủ thêm tí nữa, vì ở đấy chẳng có gì đáng xem, ngoài cái việc đếm gác chuông nhà thờ cho đỡ buồn.
Hoàng tử nói:
- Thật tôi chẳng lễ độ chút nào, tôi ra đi mà chẳng có lời từ biệt cụ và các anh kia.
- Khi người ta đang ngủ thì từ biệt thế quái nào được?
Nói rồi gió bay nhanh hẳn lên.
Tối đến, quang cảnh các thành phố lớn đẹp tuyệt vời. Đèn dần dần thắp lên. Hoàng tử thích quá vỗ tay lia lịa. Gió Đông bảo chàng nên cẩn thận, kẻo vô phúc mà lăn nhào xuống thì có mà tan xác.
Gió bay nhanh hơn cả con chim ưng đang lướt trên khu rừng âm thầm. Một lỵ binh người Nga đang phi nước đại ở dưới đất, gió cũng phóng nhanh hơn.
Gió Đông nói:
- Hy Mã Lạp Sơn đây rồi! Đó là ngọn núi cao nhất thế giới. Chúng ta sắp đến Thiên đường.
- Đến Thiên đường rồi ư? Hoàng tử hỏi.
- Không, chưa đến!- Gió đáp- Nhưng chẳng còn xa nữa đâu, Hoàng tử có trông thấy cái cửa động đằng kia không? Nói rồi gió hạ xuống trước cửa động.
Họ vào trong động. Rét khủng khiếp. Nhưng chỉ rét một lát thôi. Gió Đông dang đôi cánh lấp lánh như một luồng ánh sáng chói chang.
Đường xuyên qua động có đoạn hẹp lại, phải bò sát đất mới tiến được, có đoạn lại cao và rộng thênh thang.
Hoàng tử nói:
- Đường lên Thiên đường khúc khuỷu đến thế này ư?
Gió Đông không đáp lại, nhưng lấy tay chỉ về phía trước, một luồng ánh sáng xanh lộng lẫy đang rực lên ở phía ấy.
Những ngọn nhũ thạch trong vắt rủ xuống trên đầu họ, trông như những đám mây trắng dưới ánh trăng. Không khí ở đây êm dịu và thơm phức, trong sạch như trên núi cao, ngát hương như những bông hồng dưới thung lũng.
Một con suối chảy qua đấy, trong vắt như không khí, cá vàng cá bạc bơi theo dòng suối. Những con lươn đỏ xậm nhoi lên lặn xuống, làm tung toé lên những tia ánh sáng. Những tàu lá sen to lấp lánh đủ màu cầu vồng, hoa sen nom như những ngọn lửa đỏ rực. Một nhịp cầu bằng đá hoa, một tác phẩm nghệ thuật kỳ diệu, trông như làm bằng đăng ten và ngọc trai, vắt qua suối sang đảo Hạnh phúc, ở giữa Thiên đường.
Gió Đông cắp hoàng tử trong nách. Hoa lá cất tiếng hát những bài hát tuyệt diệu mà chàng đã được nghe trong thời thơ ấu, nhưng với một giọng du dương hơn giọng người.
Trên thảm cỏ, đàn công đang xoè đuôi. Hoàng tử lại gần. Thần diệu thay! Không phải là chim công tuyệt đẹp. Sư tử và hổ báo nhảy qua hàng rào ô liu đang nở hoa, nhẹ nhàng và hiền lành như những con mèo con. Đàn chim cu đến đậu trên bờm sư tử. Mấy con sơn dương đứng bên cạnh sư tử mà chẳng sợ hãi tí nào.
Nàng tiên xuất hiện, nét mặt hiền từ, xiêm y lóng lánh như ánh thái dương. Một đoàn thiếu nữ xinh đẹp tuyệt trần đi theo nàng trên làn tóc của mỗi người có đính một ngôi sao vàng.
Gió Tây đưa cho nàng tiên tấm lá cọ. Đôi mắt nàng ánh lên niềm vui sướng. Nàng cầm tay hoàng tử và dắt chàng vào lâu đài: tường lâu đài lóng lánh như những cánh hoa uất kim hương dưới ánh mặt trời. Trần nhà chạm trổ như một đoá hoa khổng lồ sáng lấp lánh, càng nhìn càng thấy cao mãi lên.
Hoàng tử đi lại phía cửa sổ và nhìn ra ngoài. Chàng trông thấy Adam và Eva đang đứng gần gốc cây trí tuệ. Hoàng tử nói:
- Tôi tưởng họ đã bị đuổi ta khỏi Thiên đường kia mà!
Nàng tiên mỉm cười và cho chàng hay rằng cảnh tượng chàng nhìn thấy chỉ là hình ảnh tạc trên kính mà thôi. Đó là tác phẩm của thời gian, người thợ khéo nhất trong tất cả những người thợ khéo.
Nàng nói tiếp:
- Chúng ta hãy ra sông, lên thuyền để đi dạo mát một chút, Thuyền sẽ bập bềnh, nhưng không chuyển động, danh lam thắng cảnh trên thế gian sẽ lần lượt diễu qua trước mắt chúng ta.
Họ ra sông và trèo lên thuyền. Cảnh vật thật là kỳ diệu, không bút nào tả xiết. Hai bên bờ hình như đang chuyển động.
- Tôi có thể ở đây mãi được không? Hoàng tử nói.
- Cái đó tuỳ ở chàng! Nàng tiên đáp. Nếu chàng không bị cám dỗ như Adam, chàng có thể ở lại đây suốt đời.
- Được, tôi sẽ không sở vào quả cầu của cây trí tuệ. Ở đây còn khối quả đẹp hơn thế!
- Hãy nghĩ cho kỹ. Nếu chàng cảm thấy không vững vàng lắm thì nên quay về với gió. Một trăm năm nữa gió mới trở lại đây. Thời gian đó đối với người ở đây không dài hơn một giờ, nhưng cũng đủ để chàng sa ngã. Chiều chiều, khi chia tay, tôi sẽ nói với chàng: “Lại đây với tôi!” Tôi sẽ vẫy tay làm hiệu, nhưng chàng chớ có theo tôi. Mỗi bước chàng theo tôi, ý chí của chàng sẽ yếu đi và cuối cùng chàng sẽ theo tôi tới căn phòng có cây trí tuệ. Tôi sẽ ngủ dưới bóng cây, ngào ngạt hương thơm. Chàng sẽ cúi xuống gần tôi, lúc đó nếu chàng hôn lên môi tôi thi lập tức Thiên đường sẽ tụt xuống đất.
Hoàng tử nói với một giọng cả quyết:
- Tôi xin ở lại!
Gió Đông hôn lên trán chàng.
- Hãy giữ vững ý chí ấy. Trăm năm nữa chúng ta sẽ lại gặp nhau.
Nói rồi, gió tung đôi cánh sáng rực như ánh chớp.
Hoa lá, cỏ cây chúc gió lên đường bình yên.
Đàn cò và đàn chim bồ nông bay thành hàng dài tiễn đưa gió đến tận địa giới Thiên đường. Nàng tiên nói:
- Chúng ta bắt đầu nhảy và khi mặt trời lặn tôi sẽ rủ chàng đi với tôi. Chàng nhớ là đừng nghe tôi. Suốt một trăm năm tôi sẽ rủ rê chàng nhiều lần như vậy, nhưng nếu chàng tự kiềm chế được thì qua mỗi lần thử thách, ý chí chàng càng thêm vững chắc, và cuối cùng cũng không nghĩ đến chuyện theo tôi nữa.
Nói rồi nàng tiên dẫn chàng tới một gian phòng trang trí toàn hoa huệ trắng trong suốt, mỗi nhuỵ hoa hình thành một chiếc thụ cầm nhỏ bằng vàng, tiếng thụ cầm réo rắt như tiếng sáo. Một đoàn thiếu nữ xinh đẹp, xiêm áo toàn bằng lụa, hát lên những bài hát ca ngợi cuộc sống êm dịu, cuộc sống bất diệt, và cầu mong Thiên đường đời đời nở hoa.
Mặt trời lặn. Bầu trời nom như một biển cả đầy ánh sáng, các đoá hoa huệ trong phòng rực sáng lên.
Cât Trí tuệ lấp lánh. Một bài hát du dương vang lên. Hoàng tử nghe thấy giọng nói quen thuộc của hoàng thái hậu:
- Con, con yêu quý của mẹ!
Nàng tiên ra hiệu cho chàng và reo lên:
- Lại đây với tôi! Lại đây với tôi!
Lập tức chàng quên lời hứa. Nàng vẫn ra hiệu cho chàng và mỉm cười duyên dáng. Hoa toả hương thơm, thụ cầm vang lên du dương trầm bổng, hàng triệu cặp môi đang mỉm cười trong gian phòng có cây Trí tuệ.
Thụ cầm hát bài: “Phải nếm đủ mùi đời, người là chúa tể trên trái đất.”
Vẫn có tiếng gọi:
- Lại đây với tôi! Lại đây với tôi!
Qua mỗi bước đi, má hoàng tử càng nóng bỏng lên, mạch càng đập mạnh. Chàng nói to:
- Nghe theo tiếng gọi trái tim, phải đâu là tội lỗi? Say mê sắc đẹp và đi tìm thú vui cũng là chuyện người ta thường tình, huống chi ta chỉ ước mong được ngắm nàng đắm chìm trong giấc mộng. Miễn là đừng có hôn vào môi nàng là chẳng có thể xảy ra chuyện gì cả. Nhất định ta sẽ giữ được mình. Ta cảm thấy vững vàng và cương quyết hơn bao giờ hết. Hoàng tử lại nói:
- Ta chưa sa ngã và nhất định ta sẽ không sa ngã.
Nàng tiên rẽ cành và dấu mình vào trong lá cây.
Hoàng tử vén cành lá lên và trông thấy nàng tiên đang nằm ở đấy. Nàng mỉm cười trong giấc mơ. Chàng cúi xuống mặt nàng và nhìn thấy những giọt lệ tuôn từ trong mắt nàng ra như những viên ngọc trai.
- Có phải vì tôi mà nàng khóc không? Chàng thì thầm. Đừng khóc nữa, bạn rất thân yêu của tôi! Chỉ đến phút này tôi mới cảm thấy thế nào là Thiên đường, thế nào là Hạnh phúc. Hạnh phúc đang hoà vào máu tôi, đang tràn ngập trái tim tôi. Trong con người trần tục của tôi bỗng nhiên có một sức sống gần như vô tận. Cầu mong cho bóng đêm vĩnh cửu hãy ôm ấp lấy tôi! Một phút như phút này cũng thoả đời rồi.
Và chàng hôn lên những giọt nước mắt của nàng tiên, môi chàng ép vào môi nàng…
Bỗng một tiếng sét xé tan bầu trời, một tiếng sét khủng khiếp chưa từng thấy. Nàng tiên, vườn Thiên đường, tất cả sụp xuống đất. Hoàng tử rơi xuống, rơi mãi. Chàng thấy mọi vật cùng theo chàng rơi vào vực thẳm tối om, chỉ còn một ngôi sao nhỏ tí đang lấp lánh ở đằng xa. Cái chết lạnh ngắt làm chân tay chàng run rẩy. Chàng nhắm mắt lại. Mưa lạnh buốt quất vào mặt chàng. Một luồng gió rét cắt ruột nổi lên. Dần dà chàng hồi tỉnh và kêu lên:
- Ta đang làm gì thế? Trời! Ta đã sa ngã như Adam! Ta đã phạm tội và mất cả Thiên đường!
Chàng mở mắt ra. Ngôi sao lấp lánh từ lúc Thiên đường sụp đổ, vẫn còn loé sáng. Chàng ngồi dậy và thấy mình đang ở trong khu rừng lớn, gần hang Gió, bà mẹ Gió đang ngồi gần chàng. Bà ta bất bình và giơ tay doạ:
- Ngay từ tối đầu tiên! Ta đã biết mà! Nếu chàng là con ta thì ta sẽ tống cổ vào bao!
Vào lúc đó, Thần Chết hiện ra và nói:
- Thôi để ta xử lý cho!
Thần là một ông lão rất khoẻ, có đôi cánh đen, tay cầm lưỡi hái.
- Giờ ta chỉ đánh dấu vào người hắn và cho hắn ngao du trên mặt đất, hối lỗi để rồi trở nên người tốt. Lúc nào hắn ít nghĩ tới sự chết nhất, ta sẽ đặt hắn vào một cỗ quan tài đen và mang hắn lên các vì sao. Nơi ấy cũng có một Thiên đường. Nếu hắn đứng đắn và phúc hậu, hắn sẽ được vào đấy. Trái lại, nếu trái tim hắn đầy tội lỗi, hắn sẽ cùng quan tài rơi xuống vực sâu. Và chỉ sau hàng ngàn năm ta mới có thể gặp lại hắn để tống hắn xuống sâu hơn nữa, hoặc đưa hắn lên ngôi sao đang lấp lánh trên cao kia, tuỳ mức độ tu dưỡng của hắn.